GIÁO SĨ TRỊ ĐANG QUAY LẠI HAY PHÁT TRIỄN KHI GIÁO QUYỀN CGVN THOẢ HIỆP VỚI CHÍNH QUYỀN CSVN

(TỪ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH ĐẾN THÁCH ĐỐ THỰC THI CÔNG ĐỒNG VATICAN II TẠI VIỆT NAM)

I MỞ ĐẦU

Trong tiến trình XEM XÉT và canh tân của Giáo hội Công giáo đương đại, “giáo sĩ trị” (clericalism) ngày càng được nhìn nhận như một nguyên nhân cơ cấu dẫn đến nhiều khủng hoảng nghiêm trọng: suy giảm niềm tin của giáo dân, lạm dụng quyền lực, và sự tê liệt của vai trò ngôn sứ. Tuy nhiên, trong thực hành mục vụ, giáo sĩ trị thường bị giản lược thành những khiếm khuyết luân lý cá nhân, thay vì được phân tích như một cấu trúc quyền lực được hình thành và duy trì trong lịch sử.

Bài nghiên cứu này chủ trương rằng giáo sĩ trị là một BIẾN THÁI HAY THOÁI HOÁ  cơ cấu, đi ngược lại Tin Mừng và truyền thống Giáo hội sơ khai, đồng thời mâu thuẫn trực tiếp với giáo huấn nền tảng của Công đồng Vatican II. Trong bối cảnh Việt Nam, sai lệch này còn mang tính lai ghép với cơ chế chính trị, khiến việc thực thi Vatican II bị vô hiệu hóa một cách có hệ thống. Quay lại thời Giáo Sĩ Trị trung cổ giới tu sĩ (giáo quyền) đồng hoá với giai cấp quý tộc cùng thống trị  Châu Âu

.

II. NỀN TẢNG KINH THÁNH: “TA ĐẾN ĐỄ PHỤC VỤ, KHÔNG PHẢI ĐỂ ĐƯỢC PHỤC VỤ “

Các sách Tin Mừng trình bày một quan niệm quyền bính hoàn toàn khác với mô hình thống trị của thế gian. Đức Giêsu Kitô đã nhiều lần bác bỏ lối hiểu quyền lực dựa trên áp đặt và ưu thế, thay vào đó đặt nền tảng lãnh đạo trên sự phục vụ, khiêm hạ và hiến thân.

Hành động rửa chân cho các môn đệ (Ga 13: 31-35) mang ý nghĩa thần học nền tảng: quyền bính trong cộng đoàn Kitô hữu chỉ có tính chính đáng khi gắn liền với việc cúi xuống phục vụ người khác. Do đó, bất kỳ mô hình quyền lực nào đặt người lãnh đạo lên trên cộng đoàn đều mâu thuẫn trực tiếp với Tin Mừng.

III. GIÁO HỘI SƠ KHAI: VẮNG BÓNG GIÁO SĨ TRỊ

Trong ba thế kỷ đầu, Giáo hội tồn tại như một cộng đoàn thiểu số bị bách hại, không có điều kiện hình thành một tầng lớp giáo sĩ mang đặc quyền xã hội. Các chức vụ như giám mục, linh mục, phó tế được hiểu trước hết như những thừa tác vụ phục vụ, gắn liền với đời sống chứng tá và sự yêu thương  tín nhiệm của cộng đoàn.

Không tồn tại khái niệm “chức thánh bất khả bình” giới Giáo Sĩ  tách biệt, tự đồng hoá với Thiên Chúa ,  đấng bản quyền đại diện Thiên Chúa, “ vâng ý Chúa qua Bề trên”   đứng trên đầu  giáo dân. Thời kỳ Quyền bính mang tính tương quan và đặt trên nền tảng “tình yêu Thiên Chúa”  của toàn thể cộng đoàn tín hữu. Không gì cao quý hơn tình yêu , dám hy sinh mạng sống vì bạn hữu,  như gương  Thầy chí thánh  Giêsu

IV. SỰ HÌNH THÀNH GIÁO SĨ TRỊ TRONG LỊCH SỬ

Bước ngoặt quyết định diễn ra vào thế kỷ IV, khi Kitô giáo được hợp pháp hóa và dần trở thành tôn giáo được nhà nước bảo trợ. Từ đây, Giáo hội chuyển từ vị thế bị bắt bớ , bách hại thành nắm giữ quyền hành ,  trung tâm xã hội, kéo theo sự biến đổi sâu sắc trong cách hiểu về quyền bính.

Tại Âu Châu, Thời Trung Cổ (The Middle Ages), giai đoạn mà Giáo hội Công giáo có quyền lực tối thượng. giáo sĩ trị phát triển hoàn chỉnh khi Giới giáo sĩ liên kết với giới Quý tộc  nắm giữ đất đai, tòa án và quyền cai trị. Giáo dân dần bị loại khỏi tiến trình ra quyết định và được định vị như những chủ thể thụ động  (vâng phục bất kể đúng sai )  trong đời sống Giáo hội. (còn gọi là  thời kỳ Giáo Trị kéo dài 9 thế  kỷ ).  Tại sao gọi là “Giáo trị”?

Dù không phải là một chính phủ duy nhất, nhưng Giáo hội đóng vai trò là ” thần quyền” liên kết thế quyền chính trị bao trùm . gán ghép  “không quyền bính nào , không thuộc về Thiên Chúa “

  • Quyền lực Tuyệt đối: Giáo hội nắm giữ chìa khóa cứu rỗi linh hồn, khiến mọi tầng lớp từ nông dân đến vua chúa đều phải phục tùng, phải được giáo triều công nhận phong vương .
  • Hệ thống Pháp luật riêng: Giáo hội có luật Giáo hội (Canon Law) và hệ thống tòa án riêng. Có quân đội riêng
  • Sở hữu Đất đai: Giáo hội là chủ sở hữu đất đai lớn nhất Châu Âu thời bấy giờ (chiếm khoảng 1/3 diện tích đất canh tác).

Công đồng Trentô (1545–1563), dù nhằm bảo vệ Giáo hội trước Cải cách Tin Lành, đã vô tình củng cố mô hình tập trung quyền lực nơi hàng giáo sĩ, đặc biệt qua việc nhấn mạnh vai trò độc quyền của linh mục trong đời sống bí tích.” Chống ( phản biện ) cha là chống Chúa. Đáng sa hoả ngục “

V. CÔNG ĐỒNG VATICAN II – PHƯƠNG THUỐC GIẢI GIÁO SĨ TRỊ

Công đồng Vatican II (1962–1965) đánh dấu nỗ lực canh tân sâu rộng nhất trong lịch sử Giáo hội Công giáo hiện đại. Trước những biến chuyển của thế giới, Giáo hội ý thức nhu cầu trở về với nguồn mạch Tin Mừng.

Hiến chế Lumen Gentium xác định rằng Giáo hội trước hết là Dân Thiên Chúa (LG 9–17), trong đó mọi tín hữu đều có phẩm giá bình đẳng trước mặt Chúa và cùng chia sẻ trách nhiệm chung.

Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem khẳng định rằng ơn gọi Kitô hữu tự bản chất cũng là ơn gọi tông đồ (AA 2–4), trao cho giáo dân quyền và bổn phận hành động trong đời sống xã hội.

Hiến chế Gaudium et Spes đặt Giáo hội trong mối tương quan sống động với thế giới, nhấn mạnh vai trò của lương tâm, công lý và phẩm giá con người (GS 1, 16, 43).

VI. CƠ CHẾ VÔ HIỆU HÓA VATICAN II

Mặc dù Vatican II cung cấp nền tảng thần học rõ ràng để tháo gỡ giáo sĩ trị, nhưng trong thực tế, nhiều cơ chế vận hành đã làm suy yếu hoặc vô hiệu hóa tinh thần của Công đồng.

Những cơ chế này bao gồm độc quyền thiêng liêng,” Chống cha , là chống Chúa” . Phản biện là lỗi đức vâng lời . mất ơn Chúa , mất linh hồn . Lập ra bức tường thành văn hóa im lặng, cấu trúc xin–cho, và làm cớ sự thiếu minh bạch trong quản trị và tài chính, cũng như những sai phạm lớn hơn

VII. GIÁO SĨ TRỊ TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM

Giáo sĩ  thuộc một tầng lớp đặc biệt, nếu không muốn nói là một giai cấp nổi bật,( người mang chức thánh , đại diên Chúa mọi phương diện , thậm chí là Chúa )  với những hình ảnh và những trách vụ chuyên biệt được xác định rõ trong Giáo hội. hàng ngũ giáo sĩ  xuất hiện hai hình thức thái quá. Hình thức thứ nhất thuộc về những người không nhận biết hoặc không đón nhận tinh thần của Công đồng Vatican 2, họ hành xử cách chuyên chế theo chủ nghĩa giáo sĩ trị. Dựa vào Chính quyền độc tài CS ,  Sự kết hợp này tạo nên một mô hình giáo sĩ trị lai ghép chính trị, trong đó khái niệm “ổn định”  giáo quyền đi đôi với chính quyền .Luôn  được đặt cao hơn sự thật, lương tâm và vai trò ngôn sứ của Giáo hội.

VIII. DÒNG THỜI GIAN GIÁO SĨ TRỊ TẠI VIỆT NAM (1954– hiện nay )

Từ 1954 đến 1975, quyền lực giáo sĩ gia tăng trong bối cảnh chiến tranh. Sau 1975, Đảng CSVN thành lập UBĐKCG là công cụ thâm nhâp để tha hoá , biến chất GHCG , Hàng giáo phẩm với  tâm thức cộng sinh  để tồn tại và phát triển  dẫn đến quản trị khép kín và văn hóa im lặng.  Sau khi những HY , GM  kiên vững giữ gìn đức tin tinh tuyền , độc lập  với  chính quyền CSVN không còn . Hiện  nay chính sách Đảng CSVN lợi dụng  giáo sĩ trị chuyển sang hình thức mềm hơn nhưng tinh vi. Và thành công  hơn. Thực tế đang thể hiện rõ rệt tại GP Vinh dưới quyền cai trị của GM Nguyễn Hữu Long liên kết chặt chẽ  giữa giáo quyền và chính quyền .Đơn cử hai  Trường hợp cụ thể là:

1/ 2020 Treo chén , cấm thi hành mục vụ triệt để.   Hoàn toàn không sai phạm giáo  luật , luân lý của LM Đặng Hữu Nam. Chỉ dựa vào việc lên tiếng chống lại việc chính quyền đàn áp tôn giáo và vi phạm nhân quyền. GM biến việc này thành lỗi ”đức vâng lời” vì không làm theo yêu cầu im lặng với mọị bất  công cùa GM. Sau sáu năm khiếu nại vẫn chưa được giải quyết .

2/ 2023 Mại thánh chức  Linh Mục cho Nhân Vật Hồ Hữu Hoà có nhiều liên hệ mật thiết với chính quyền CSVN. Và có lý lịch bất minh . đã ba năm qua vẫn chìm trong bóng tối ma quỷ

IX. HỆ QUẢ MỤC VỤ VÀ LUÂN LÝ

Giáo sĩ trị để lại những hệ quả nghiêm trọng: suy giảm niềm tin của giáo dân, gia tăng hoài nghi nơi giới trẻ, và làm tê liệt vai trò ngôn sứ của Giáo hội.

X. HƯỚNG THÁO GỠ VÀ CẢI TỔ

Việc tháo gỡ giáo sĩ trị đòi hỏi những cải tổ cơ cấu thực chất: phi thần thánh hóa chức vụ, bảo vệ chức thánh , không bảo vệ người mang Chức Thánh nhưng thoái hoá, biến chất không xứng đáng với chức thánh   thí dụ như  HY giáo chù Hoa Kỳ Mc Carick. ( Không được đụng đến người có chức thánh , và phải vâng lời tối mặt , bất kể trái luân lý ) , thiết lập cơ chế giải trình, trao thực quyền cho giáo dân, và minh bạch trong quản trị. Phát huy tiêng nói ngôn sứ , đứng về phía người nghèo , bị chà đạp nhân phẩm. bị gạt ra bên lề xã hội . đối xử bât công, tước đoạt nguồn sống. Phục hồi căn tính Kito  Giáo. Công bằng , bác ái và sự thật .

XI. KẾT LUẬN

Giáo sĩ trị không phải là Điều Chúa giảng dạy,  thần học, mà là do con người  lợi dụng Thiên Chúa , tự đặt để lạm quyền,  một sai trái  lịch sử có thể và cần được tháo gỡ. Công đồng Vatican II vẫn là nền tảng vững chắc cho tiến trình canh tân Giáo hội hôm nay.

PHỤ LỤC I – TRÍCH ĐOẠN VĂN KIỆN VATICAN II

Lumen Gentium 9–17: Giáo hội là Dân Thiên Chúa.

Apostolicam Actuositatem 2–4: Sứ mạng tông đồ của giáo dân.

Gaudium et Spes 1, 16, 43: Giáo hội, lương tâm và thế giới.

CHÚ THÍCH

  1. Second Vatican Council, Lumen Gentium, 1964.
  2. Second Vatican Council, Apostolicam Actuositatem, 1965.
  3. Second Vatican Council, Gaudium et Spes, 1965.
  4. John W. O’Malley, What Happened at Vatican II, Harvard University Press.
  5. https://www.vaticannews.va/vi/vatican-city/news/2020-11/phuc-trinh-mccarrick-lam-dung-tinh-duc-tre-em-giao-hoi-hoa-ky.html

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *