SÀI GÒN, NHỮNG TRANG SÁCH KHÔNG CHỊU GIÀ

 Thành phố sách của tuổi thơ:

Những buổi trưa Sài Gòn nắng đổ chang chang trên mặt đường Lê Lợi, mà tôi cứ nhớ mãi cái cảm giác len lỏi qua cánh cửa gỗ của nhà sách Khai Trí, số 60 – 62 đại lộ Bonard ngày trước, để bước vào một thế giới khác hẳn ngoài kia.

Với một đứa con nít như tôi hồi đó, đây chẳng khác nào bước chân vào một “thành phố sách” thu nhỏ, sách bày la liệt, kệ kê sát nhau thành từng hàng từng lớp, người ra vào tấp nập mà vẫn chừa được một góc nhỏ cho mấy đứa trẻ ranh ngồi bệt xuống sàn, “đọc ké” cho đã đời, không cần mua cũng chẳng ai rầy.

Tôi nhớ mình hay lật tới lật lui, đắn đo coi nên đọc gì trước, đọc gì sau, rồi cuối cùng mới dám rụt rè xin người lớn mua cho một cuốn. Những ngày ấy tôi mê Lucky Luke, gã cao bồi bắn súng lẹ hơn cả cái bóng của chính mình, mê hai chàng hiệp sĩ Lữ Hân – Phi Lục, mê Xì Trum, Tintin, mê Phan Tân – Sĩ Phú, rồi Astérix và Obélix. Những trang bìa báo do họa sĩ Vi Vi hay Đinh Tiến Luyện vẽ, tôi ngắm hoài không chán. Tủ sách Tuổi Hoa, sách Hoa đỏ, mấy cuốn trinh thám thám hiểm như Pho tượng rồng vàng, Ngục thất giữa rừng già… cứ thế mà ngấm vào tôi từ hồi nào không hay.

Chuyện “đọc mà không mua” ấy, sau này tôi mới thấm, không phải chuyện dễ mà một hiệu sách bình thường dám làm. Đó là lối bán hàng tự chọn đầu tiên ở Việt Nam, khách đứng đọc hàng giờ rồi ra về tay không cũng chẳng sao, nhân viên nữ mặc đồng phục, ân cần mà kín đáo, trông chừng chứ không dòm ngó. Ngày nay chuyện ấy thành chuyện thường ở hầu hết các nhà sách, nhưng hồi đó là mới mẻ dữ lắm, mới tới mức mà nhờ nó, tiệm sách nhỏ ngày nào mới dần nới rộng ra thêm hai căn liền kề, cất cao thêm mấy tầng lầu.

Giờ nhắc lại, tôi vẫn còn nghe văng vẳng cái mùi giấy mới, mùi mực in, cái mùi mà một đứa con nít nhớ hoài tới tận già. Ký ức tuổi thơ là vậy, nó không cần lý do, chỉ cần một mùi hương, một góc kệ sách, cũng đủ neo cả một quãng đời.

Người gieo chữ từ hai bàn tay trắng:

Sau này tôi mới hay, ông chủ nhà sách ấy tên thật là Nguyễn Hùng Trương, sinh năm 1926 ở Thủ Đức, người ta quen gọi bằng cái tên gắn liền với sự nghiệp của ông, “ông Khai Trí”. Ông cũng chính là chủ tờ báo Thiếu Nhi mà tôi mua đọc đều đặn mỗi tuần, tờ báo mời được nhà văn Nhật Tiến, tác giả Chim hót trong lồng, về làm chủ bút.

Thuở nhỏ, ông Trương nhịn ăn sáng, dành hai đồng xu mẹ cho để mua báo đọc. Lên Sài Gòn học trung học Petrus Ký, nhà sắm cho chiếc xe đạp cũ, cuối tuần đạp về, đầu tuần trở lên mang theo món tiền tiêu dè sẻn cả tuần. Vậy mà cứ chiều thứ hai là ông tiêu sạch vào sách báo, rồi nhịn đói cả tuần, chỉ uống nước lã cho đỡ cồn cào. Sách ông mua phần nhiều là sách nước ngoài, tới thập niên 1940 đã gầy dựng được một tủ sách kha khá. Bạn bè thấy hay, nhờ ông mua giùm. Một lần tôi năm người nhờ, ông mua tới mười cuốn để hưởng ba mươi phần trăm hoa hồng, số dư đem ký gửi ở quán sách. Ba bữa sau chủ quán hỏi còn không, vì sách gửi trước bán sạch rồi. Từ cái duyên nhỏ ấy, ông nảy ra ý định mua sách báo nước ngoài về gửi bán, chọn toàn loại sách quý, hiếm, người ta cần mà trong nước không có.

Cứ vậy, tích cóp từng đồng, tới năm 1952 ông đủ vốn mở một hiệu sách nhỏ ở số 62 đại lộ Bonard, đặt tên Khai Trí. Từ một cậu học trò nhịn ăn sáng mua báo, ông trở thành người kinh doanh ngành sách lớn nhất nhì Sài Gòn, rồi không dừng ở đó, ông bước tiếp qua vai trò nhà xuất bản, cho ra đời loạt sách “Học làm người” quy tụ những cây bút uy tín đương thời như Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần, Hoàng Xuân Việt, Phạm Cao Tùng. Ông còn có cái thú sưu tầm sách báo khá kỳ công. Riêng tờ Le Monde tiếng Pháp, ông giữ từ số đầu tiên cho tới tận ngày 30/4/1975, cộng thêm bộ Paris Match từ số 1, trong đó lưu biết bao hình ảnh quý về cuộc chiến của Pháp ở Đông Dương. Trong kho ông còn có 4.000 trang bản thảo từ điển tiếng Việt và gần 300 bản thảo sách đang chờ in.

Người quảng bác đến vậy mà lại ít nói về mình, nên chẳng mấy ai biết rõ ông chính là tấm gương sống động của một kẻ đi lên từ hai bàn tay trắng. Tôi lại thấy cái nghiệp sách của ông không phải chuyện làm ăn đơn thuần, mà là một mối tình. Mối tình với con chữ, bền bỉ tới mức nhịn đói cũng cam, cả đời cứ đau đáu muốn đem sách hay đến cho người đọc.

Một kiếp sách, một kiếp người:

Rồi biến cố 1975 ập tới, nhà sách Khai Trí cùng toàn bộ tài sản, nhà cửa của ông bị tịch thu, bản thân ông cũng bị bắt. Chung số phận với ông còn có những người khác trong ngành phát hành sách báo Sài Gòn năm ấy như ông Nguyễn Văn Chà của nhà tổng phát hành Nam Cường, ông Tư Bôn của cơ sở phát hành Thống Nhất. Mặt bằng nhà sách sau đó chuyển thành Nhà sách Sài Gòn, thuộc Fahasa.

Ra tù, ông được sang Hoa Kỳ đoàn tụ gia đình, sống ở California. Nhưng cái nghiệp sách vẫn đeo bám ông tận xứ người, chẳng chịu buông. Ông từng được cho phép đứng tên xuất bản một “Tuyển tập thơ tình chọn lọc”, báo chí trong nước cũng từng viết về ý định kinh doanh sách của ông, nhưng rồi mọi chuyện cũng chẳng đi tới đâu. Mang tiếng sống ở Mỹ, nhưng kỳ thực thời gian ông ở Việt Nam nhiều hơn ở xứ người. Ông ở Việt Nam ít nhất ba tháng, có năm gần trọn mười hai tháng. Về già, khi gần tuổi bảy mươi, ông càng về nước thường xuyên hơn, để rồi cuối cùng quyết định làm lại giấy chứng minh nhân dân, xin hộ khẩu thường trú, xin nhập lại quốc tịch Việt Nam, định cư hẳn.

Ông từng trải lòng: “Tôi thấy dù có đi đâu cũng không bằng quê nhà. Càng lớn tuổi cái tình với quê hương càng sâu nặng… Những năm tháng còn lại của đời tôi, tôi mong ước được cống hiến hữu ích cho xứ sở trên lĩnh vực văn hóa.” Ông dự tính, số tiền lời kiếm được từ việc mở lại nhà sách sẽ dùng làm từ thiện, cấp học bổng cho học sinh sinh viên nghèo hiếu học, giúp bệnh viện, trường học, và giúp cả những nhà văn khó khăn muốn in sách. Riêng mười năm từ 1993 đến 2003, dẫu tuổi đã cao, ông vẫn tuyển chọn biên soạn được chừng mười lăm cuốn sách, từ Thơ tình Việt Nam và thế giới chọn lọc đến Những bài thơ hay trong văn chương Việt Nam.

Nhưng kho sách báo quý giá một thời của ông, tiếc thay, phần lớn đã thất tán. Và người đàn ông mang trong mình niềm đam mê mãnh liệt với sách báo ấy, cuối cùng cũng đã ra đi, năm 2005, khép lại một đời người gắn chặt với từng trang giấy. Tôi cứ nghĩ mãi, một đời người có thể mất tất cả, nhà cửa, tài sản, cả tự do nhưng cái nghiệp, cái tình với chữ nghĩa thì không ai tước đoạt được. Ông Khai Trí mất đi thân xác lẫn cơ nghiệp, nhưng cái tên “ông Khai Trí” thì còn sống mãi trong ký ức bao thế hệ học trò Sài Gòn cũ, trong đó có tôi.

Nguyễn Đông Á



 PHỐ SÁCH CŨ, NƠI CHỮ NGHĨA TRÔI DẠT

 Sách báo cũ ở Sài Gòn, nhất là từ khi nhà sách Khai Trí không còn, dường như cũng có một đời sống riêng, lặng lẽ mà dai dẳng. Trước năm 1975 và cả nhiều thập niên về sau, chúng từng dạt qua những “chợ sách chạy” trên vỉa hè góc Lê Lợi – Nam Kỳ Khởi Nghĩa, một thời đông đúc người mua kẻ bán; rồi tụ về Đặng Thị Nhu ở Quận 1, nơi giới mộ điệu, văn nghệ sĩ sau 1975 thường lui tới. Sau nhiều lần dời đổi, dòng sách cũ ấy cuối cùng “trôi” về Trần Nhân Tôn, Quận 5, neo lại trong những tiệm sách lâu năm như Hiếu Ngọc, Phước Hậu.

Tôi có dịp ghé con phố sách cũ Trần Nhân Tôn ấy. Người bán kể, chừng hai mươi năm trước, sách cũ còn bày rải rác bên lề đường, xen giữa vài tiệm nhỏ. Rồi người tìm sách ngày một đông, cái thú “săn” những cuốn đã mất dấu ngoài thị trường cũng nhiều lên, các cửa hàng mới lần lượt mọc ra. Cứ vậy, chẳng ai quy hoạch hay sắp đặt từ đầu, một con phố sách cũ tự nhiên mà thành.

Trong số những tiệm tôi ghé có một nơi đặc biệt, bởi nghề bán sách đã truyền qua ba thế hệ. Chuyện bắt đầu sau năm 1975, khi một người phụ nữ đẩy chiếc xe chở sách cũ đi bán dọc đường Trần Nhân Tôn. Thấy nghề nuôi sống được gia đình, đến năm 1994 bà mở hẳn cửa tiệm. Về già, bà giao lại cho con rể. Bây giờ, người đứng giữa những chồng sách cao ngất ấy là đứa cháu ngoại mới hai mươi lăm tuổi.

Đứa cháu từng làm bartender, rồi thấy cha mẹ đã nhiều năm vất vả với cửa tiệm nên trở về tiếp quản để họ được nghỉ ngơi. Lớn lên giữa những chồng sách cũ, quen mùi giấy đến mức rồi thương luôn cái mùi ấy, anh nói một câu tôi còn nhớ: “Dù tiếp xúc nhiều với mạng xã hội, nhiều môi trường giải trí khác nhau… tôi yêu những cuốn sách cũ này… luôn dành thời gian để lắng lại đọc một cuốn sách trước khi ngủ.” Nghe vậy mới hiểu, với anh, sách đâu còn đơn thuần là món hàng. Nó là gia tài của bà ngoại để lại, là công sức của cha mẹ, rồi tới lượt mình nhận lấy mà giữ gìn. Một nghề buôn bán, khi truyền qua ba đời, tự nhiên cũng thành một phần gia phả của gia đình.

Gian nhà sâu hun hút, sách chất từ ngoài vào trong, cao thấp chen nhau, chỉ chừa một lối nhỏ vừa đủ người len qua. Người lạ nhìn vào có khi hoa cả mắt, tưởng muốn tìm một cuốn sách chắc phải mất cả buổi. Vậy mà khách vừa buông tên, người bán đã biết phải lần vào đâu, rút ở chồng nào. Cứ như hàng ngàn cuốn sách kia tuy nằm lộn xộn trước mắt người ngoài, nhưng trong đầu họ, mỗi cuốn đều đã có sẵn một chỗ của mình. Dọc Trần Nhân Tôn bây giờ còn hơn chục tiệm sách cũ nằm gần nhau. Sách, báo, tạp chí, truyện tranh đủ loại, phần nhiều đã ngả màu thời gian. Nguồn sách cũng muôn nẻo: từ người thu mua đồ cũ, những tủ sách gia đình không còn người giữ, cho tới sách thư viện thanh lý. Bởi vậy, người mê sưu tầm chịu khó lục tìm đôi khi bắt gặp những đầu sách đã ngừng in từ lâu, tưởng chẳng còn đâu nữa.

Giá sách ở đây lại rẻ đến bất ngờ. Sách chỉ vài ngàn đồng, truyện tranh cũ hai chục năm tuổi cũng chỉ mươi, mười lăm ngàn một cuốn, nguyên bộ chừng vài trăm ngàn. Một số loại sách người ta bán luôn theo ký, chẳng buồn tính từng cuốn. So với sách mới, nhiều món rẻ hơn hai ba lần. Nhưng cái thú của người tìm sách cũ hình như không nằm hết ở chuyện rẻ. Chính vì những cuốn quý goài kia đã không còn bán nữa.

Một người cha thường ghé mua truyện cho con kể rằng nhiều bộ đứa nhỏ thích đã ngừng xuất bản, tìm khắp nơi không thấy, vậy mà tới đây lại gặp. Giá vừa rẻ, sách vẫn còn lành lặn, con anh lại có thêm nhiều thứ để đọc. Thành thử một cuốn truyện đã đi qua tuổi thơ của đứa trẻ này, nhiều năm sau lại có thể bước vào tuổi thơ của một đứa trẻ khác. Sách cũ là vậy, đời của nó đôi khi dài hơn cả người mua nó lần đầu.

Một lần tôi gặp một người đã rất già, lom khom đi tìm một cuốn sách sử. Ông nói:

“Những cuốn sách có thể đã cũ nhưng giá trị trong cuốn sách mà tôi tìm không bao giờ mất đi. Nơi đây giúp tôi tìm lại được kí ức của quá khứ.”

Câu nói ấy khiến tôi nhìn con phố này khác đi.

Hóa ra giữa những gian nhà chật hẹp, trong mùi giấy cũ ngai ngái và những trang sách đã ố vàng, người ta đâu chỉ cất giữ sách. Ở đó còn có tuổi thơ của người này, một thời đi học của người kia, những câu chuyện từng đọc rồi quên, những tên sách tưởng đã thất lạc khỏi đời mình. Người đến tìm một cuốn sách, nhiều khi cầm nó lên, thứ tìm lại được đôi khi là cả một quãng đời. Nghĩ vậy mới thấy chữ nghĩa cũng có số phận. Một cuốn sách có thể từng nằm trang trọng trên kệ, rồi bị bán đi, thất lạc, qua tay người thu mua đồ cũ, nằm lẫn trong một chồng sách chẳng ai nhớ tên. Nó trôi dạt hết nơi này sang nơi khác, cho đến một ngày gặp đúng người đang đi tìm mình.

Thời gian làm giấy ngả màu, làm bìa sách sờn đi, có thể xóa mất một cái tên khỏi thị trường. Nhưng có những điều nằm bên trong thì thời gian chẳng lấy đi được. Trái lại, càng qua nhiều bàn tay, càng đi qua nhiều năm tháng, chữ nghĩa dường như càng lắng sâu thêm một lớp đời.

Phố sách cũ Trần Nhân Tôn không chỉ là nơi bán những cuốn sách đã qua tay người khác. Nó giống một bến nhỏ cho chữ nghĩa sau bao năm trôi dạt tìm được chỗ neo lại, để chờ một người nào đó bước vào, phủi lớp bụi thời gian và nhận ra thứ mình tưởng đã mất từ lâu.

Nguyễn Đông A

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *