NĂM MƯƠI NĂM SÀI GÒN MẤT TÊN

50 năm Sài Gòn mất tên

“Xét rằng nhân dân thành phố Sài Gòn – Gia Định luôn luôn tỏ lòng kính yêu vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và tha thiết với việc thành phố mang tên Người. […]

Sau khi thảo luận đề nghị của Đoàn chủ tịch kỳ họp Quốc hội; Quyết nghị: Chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn – Gia Định là thành phố Hồ Chí Minh.”

Nghị quyết về việc chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn – Gia Định là thành phố Hồ Chí Minh, ngày 2/7/1976.

Năm 2026 đánh dấu tròn một nửa thế kỷ kể từ khi cái tên Sài Gòn lần đầu tiên bị xóa khỏi những tờ bản đồ lẫn các văn bản hành chính.

Hơn một năm sau ngày chính thể Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, vào ngày 2/7/1976, Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất đã ban hành nghị quyết xóa bỏ tên gọi Sài Gòn và đổi tên thành phố này thành “Hồ Chí Minh”, theo tên của nhà sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. [1]

Thế nhưng, sáng kiến cho tên gọi này không phải đợi đến năm 1976 mới xuất hiện. Theo Huy Đức trong Bên thắng cuộc, ý đồ đổi tên Sài Gòn thành tên Hồ Chủ tịch đã được phía cộng sản nhen nhóm từ hơn 20 năm trước đó, khi đất nước còn chưa chia đôi. [2]

Trong một bài thơ xuất bản năm 1954, Tố Hữu, khi ấy là trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương, đã gọi Sài Gòn là “thành phố Hồ Chí Minh”. Không có ghi chép nào cho thấy ông Hồ Chí Minh khi đó có phản ứng gì về cách gọi này.

Đến những ngày trước và sau khi tiếp quản Sài Gòn, dù chưa có quyết định đổi tên chính thức, cái tên “mới” dành cho thành phố theo đề xuất năm xưa của Tố Hữu đã liên tục được “bên thắng cuộc” công khai sử dụng, trong các phát biểu và cả trên báo đài. Người ta cứ gọi cái tên ấy, như thể Sài Gòn nhất định phải đổi tên, và phải mang tên của nhà lãnh tụ cộng sản như một niềm vinh dự.

Trong một năm kể từ khi Nam Việt Nam sụp đổ, cũng theo Huy Đức, tuy giới lãnh đạo tại Hà Nội vẫn có những tranh cãi nhất định về chuyện đổi tên Sài Gòn, như cuộc tranh cãi giữa Võ Văn Kiệt và Trường Chinh, thế nhưng sau cùng Quốc hội vẫn dễ dàng biểu quyết thông qua tên gọi mới của thành phố. [3][4]

Cái tên chính thức ấy vẫn tồn tại mãi đến ngày nay, song song với tên gọi “Sài Gòn” vẫn được bao người quen miệng gọi, kể cả cư dân địa phương lẫn người từ muôn nơi chốn khác.

Vì sao nhà cầm quyền Việt Nam lại quyết định đổi tên Sài Gòn – địa danh đã gắn chặt với lịch sử của nơi này? Đằng sau quyết định ấy có thể là những ẩn ý chính trị nào? Liệu rằng chỉ với việc đổi tên có thể làm cho một địa danh thực sự biến mất? Và rồi, vì sao cái tên Sài Gòn vẫn được sử dụng mãi, suốt bao tháng năm bị chính quyền từ chối?

Xe tăng của quân Giải phóng đang tiến vào Dinh Độc lập. Nguồn ảnh: AFP.
Xe tăng của quân Giải phóng đang tiến vào Dinh Độc lập. Nguồn ảnh: AFP.

Cái tên làm chi nên tội?

Việc thay đổi địa danh theo tên các lãnh tụ là một thực hành quen thuộc ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa sau khi giành được chính quyền.

Vào ngày 26/1/1924, tức chỉ năm ngày sau khi Vladimir Lenin qua đời, chính quyền Liên Xô đã cho đổi tên thành phố Petrograd thành Leningrad, có nghĩa là “thành phố của Lenin”, như một động thái nhằm tưởng niệm vị lãnh tụ cộng sản này. [5] Nhiều con đường và địa danh tại đây sau đó đã được đổi tên theo các nhà cộng sản, bao gồm hơn 230 địa danh mang tên Lenin. [6]

Tuy nhiên, chỉ gần 70 năm sau, một cuộc bỏ phiếu đã diễn ra vào tháng 6/1991 tại Leningrad về việc đổi tên thành phố. [7] Có đến 57% người tham gia phản đối tên gọi hiện tại, trong đó 55% muốn thành phố trở về tên cũ là Saint Petersburg. [8] Cuối cùng, vào tháng 9/1991, trong cơn hấp hối của chính quyền Nga Xô viết, thành phố này đã giã từ danh xưng của vị lãnh tụ cộng sản để trở lại với cái tên xưa. [9][10]

Tuy nhiên, việc Saint Petersburg trở thành Leningrad chưa phải là câu chuyện đổi tên thành phố nổi bật nhất trong thời kỳ này. Đáng chú ý hơn cả phải kể đến việc hàng loạt thành phố tại các nước xã hội chủ nghĩa được đổi tên theo Joseph Stalin, trong giai đoạn vị lãnh tụ cộng sản này nắm quyền tại Liên Xô từ năm 1924 đến năm 1953.

Tại Nga, thành phố Tsaritsyn bị đổi tên thành Stalingrad, tức “thành phố của Stalin”, vào năm 1925. Ngoài ra, tên vị lãnh tụ thứ hai của Liên bang Xô viết còn xuất hiện trong danh xưng của nhiều thành phố tại Tiệp Khắc, Đông Đức, Ba Lan, Rumania, Yugoslavia, cùng những nước cộng sản khác. [11]

Điều đáng nói là, sau khi Stalin qua đời vào năm 1953, không chỉ triều đại và chủ thuyết của nhà lãnh đạo này phải cáo chung, mà nhiều thành phố từng mang tên ông cũng bị đổi sang tên khác. Đơn cử, chỉ tám năm sau cái chết của Stalin, Stalingrad đã được đổi thành Volgograd cho đến ngày nay. [12]

Có thể thấy, những cái tên từng được đặt để vội vàng bao nhiêu, sau đó cũng bị thay đổi chóng vánh bấy nhiêu.

Trở lại với Sài Gòn, không chỉ tên thành phố được đặt mới theo một mô-típ rất “cộng sản” như bên trên đã trình bày, mà nhiều con đường cũng đã bị đổi tên không kém phần ngụ ý. Sài Gòn sau năm 1975, đúng như lời nhạc của Nguyễn Đình Toàn mô tả: “Ta mất người như người đã mất tên. Mất từng con phố đổi tên đường. Khi hẹn nhau ta lạc lối tìm.”

Đã không còn một thời đô thành như những vần thơ trong sách tập đọc của bậc tiểu học tại miền Nam xưa mà hầu như thời đó ai ai cũng thuộc:

“Sài Gòn có bến Chương Dương,
Có Dinh Độc Lập, có đường Tự Do”

Nguồn ảnh: Facebook Sài Gòn – Lục Tỉnh.

Sau năm 1975, khi những địa danh bị hoán cải, người “Sài Gòn” lại truyền tai nhau những câu “ca dao” mới:

“Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.”

Hai câu ấy, bỏ qua những ẩn ý châm biếm mà ai nghe qua chắc cũng hiểu rõ, đã điểm qua hai ví dụ về chuyện đổi tên đường tại Sài Gòn sau ngày cộng sản tiếp quản thành phố.

Ngoài chuyện đường Tự Do đổi tên thành Đồng Khởi, hay đường Công Lý đổi thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa, người dân nơi đây còn phải làm quen với hàng loạt tên đường mới. Một nghiên cứu cho biết có đến 26% số con đường tại Sài Gòn sau năm 1975 bị đổi tên, chủ yếu là những tên đường gắn với triều Nguyễn, những nhân vật thời Pháp thuộc, hay những lý tưởng chính trị của Việt Nam Cộng hòa. [13]

Đường Đồng Khởi ngày nay ở Thành phố Hồ Chí Minh. Nguồn ảnh: vietnam.travel.

Trong số tên đường sau đổi mới có sự xuất hiện của không ít các nhân vật cách mạng, như đường Gia Long thành Lý Tự Trọng, Hiền Vương thành Võ Thị Sáu, Hồng Thập Tự thành Nguyễn Thị Minh Khai, Cộng Hòa thành Nguyễn Văn Cừ, Cường Để thành Tôn Đức Thắng, Nguyễn Hoàng thành Trần Phú, Thống Nhất thành Lê Duẩn, v.v.

Chuyện giới cầm quyền chủ trương đổi tên gọi của những thành phố, những con đường thành danh xưng của các danh nhân cộng sản hay sự kiện cách mạng, thường mang theo những dụng ý chính trị.

Trong một nghiên cứu xuất bản năm 2014, các tác giả Phan Thị Diễm Hương và Peter Kang đã lập luận rằng việc chính quyền cộng sản đổi tên đường tại Sài Gòn là nhằm tái xác định một bản sắc dân tộc và bản sắc chính trị mới trên thành phố này. [14]

Đáng chú ý, các tác giả chỉ ra hàng loạt lý tưởng và khẩu hiệu chính trị chứa đựng trong tên đường tại Sài Gòn thời Việt Nam Cộng hòa đã bị thay thế toàn bộ, như những cái tên Dân Tiến, Công Lý, Cộng Hòa, Liên Minh, v.v, đều triệt để biến mất. Thay vào đó là những thông điệp chính trị mới như Cách Mạng, Giải Phóng, v.v. [15]

Các nghiên cứu theo khuynh hướng địa danh học (toponymy) cũng chỉ ra rằng việc đặt hoặc đổi tên đất, tên đường, thường phản ánh nỗ lực khẳng định quyền lực của các chính quyền, ý đồ xây dựng một bản sắc chính trị mới tại địa phương, cũng như tham vọng cải biến ký ức xã hội của các cư dân. [16] Và chính những vụ đổi tên đất, tên đường tại các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là đối tượng quen thuộc của rất nhiều nghiên cứu theo khuynh hướng này.

Thế nhưng, thử nhìn lại thực tế, việc đổi tên đô thành lẫn tên phố sá có làm cho những cái tên ấy thực sự biến mất đi, hay thực sự bị quên lãng?

Khách sạn STAR ở địa chỉ số 123 đường Tự Do, nằm gần góc đường Tự Do – Nguyễn Thiệp. Ảnh: Rick Fredericksen.

Đã đành dễ xóa, khó quên

Trong câu chuyện đổi tên Sài Gòn, có một chi tiết mà có lẽ ai cũng thấy rõ: cái tên Sài Gòn sau bao năm tháng bị chính quyền mới xóa bỏ khỏi những không gian hành chính, vẫn không hề mất đi trong ký ức lẫn trong ngôn ngữ của bao người, bất kể thế hệ, bất kể trong nước hay hải ngoại, và bất kể xuất thân từ miền Bắc hay miền Nam.

Đến độ, chính quyền Việt Nam hồi năm ngoái đã phải đưa cái tên ấy trở lại một cách chính thức trên bản đồ.

Trong chiến dịch “gộp xã, bỏ huyện” hồi năm 2025, một phường ở trung tâm Quận 1 (cũ) của Thành phố Hồ Chí Minh đã được đặt tên là Sài Gòn.

Lý giải cho việc đặt tên này, Ủy ban Nhân dân Quận 1 (cũ) cho biết đây là danh xưng “dễ nhận diện, quen thuộc với cư dân lẫn khách quốc tế, thuận tiện cho việc quảng bá hình ảnh, thúc đẩy phát triển du lịch, dịch vụ và kinh tế đô thị.” [17]

Lời giải thích trên của chính quyền đã minh nhiên khẳng định sức sống của cái tên Sài Gòn qua mấy chục năm vẫn mạnh mẽ, vẫn luôn vượt qua cái tên mới mà nhà cầm quyền đặt để, và vẫn luôn là danh xưng mà người dân trong nước lẫn hải ngoại cũng như bạn bè quốc tế nhớ đến khi hình dung về địa phương này.

Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn thuộc địa phận phường Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Thành Nguyễn/VnExpress.

Đúng như lời ca trong bài Em còn nhớ hay em đã quên? của Trịnh Công Sơn, cái tên Sài Gòn không chỉ tồn tại trong trí nhớ con người như một danh xưng đơn thuần. Chứa đựng trong cái tên ấy còn là những kỷ niệm, những ký ức về từng điều quen thuộc gợi nhớ, gợi thương. Có thể đó chỉ là một món ăn ngon, một ly chè thơm, những lần hò hẹn, nhưng đã quyện chặt với địa danh và kết tinh vào tâm khảm của mỗi người.

Nhà xã hội học người Pháp Maurice Halbwachs đã đặt ra khái niệm “ký ức tập thể” (la mémoire collective/collective memory) để mô tả hiện tượng những tên gọi và cảnh vật trong một không gian sống có thể tồn tại bền bỉ trong trí nhớ của các cư dân, vượt qua năm tháng và những vật đổi sao dời. Bởi lẽ, theo Halbwachs, con người khi đó đã xem ký ức về những cảnh vật, không gian, địa danh như những “điểm tựa để bám víu” trong đời sống của mình. [18]

Từ lý thuyết của Maurice Halbwachs, sử gia Pháp Pierre Nora đã phát triển khái niệm “các địa chỉ ký ức” (lieu de mémoire/ sites of memory) để gọi chung cho những địa danh, những nơi chốn tồn tại bền bỉ trong ký ức tập thể của các cộng đồng. Theo ông, những địa chỉ này không chỉ đơn thuần là những cái tên hay tọa độ, mà còn ẩn chứa trong nó bao sự kiện, bao con người, bao trải nghiệm mà các cư dân đã kinh qua. [19] Tổng hòa những địa chỉ ký ức ấy đã tạo thành bản sắc của các đô thị và các động đồng cư dân.

Sài Gòn, trong dòng lịch sử của mình, cũng đã hun đúc nên một bản sắc độc đáo và một sổ địa chỉ ký ức, lưu giữ ký ức tập thể của lớp lớp cư dân qua bao năm tháng, bao thế hệ.

Và rồi, bên kia bờ đại dương và bên kia ngày thất thủ, một bản sắc đầy tính phóng khoáng, cởi mở của Sài Gòn tiếp tục được duy trì nơi những cư dân cũ đang chật vật làm quen với một đời sống mới sau cuộc bể dâu.

Nếu như lưu dân Anh có những New England, New Hampshire, New South Wales, New Jersey, v.v.; hay người Hoa xa xứ có những phố Tàu/Chinatown mọc lên ở khắp nơi trên thế giới, là những địa danh gợi nhớ quê hương; thì người Việt cũng có cho mình những “Little Saigon” trên hành trình di tản. Bên cạnh hai Little Saigon lớn tại Quận Cam và San Jose, nhiều khu vực cư trú khác của người Việt cũng được người ta gọi bằng cái tên này, như một mã căn cước văn hóa của người Việt xa quê. [20]

Tên gọi cũ trên những miền đất mới tuy không thể thay thế cho địa chỉ ký ức tại quê hương, nhưng hẳn cũng đã giúp an ủi, nguôi ngoai phần nào nỗi niềm cố quận.

Sài Gòn – Hành trình bản sắc

Tháng 10/1955, Việt Nam Cộng hòa được thành lập, sau sự kiện Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu dân ý và truất phế Quốc trưởng Bảo Đại để lên làm tổng thống. Sài Gòn ngay lập tức được chọn làm thủ đô của chính thể mới ra đời, với tên gọi chính thức là Đô thành Sài Gòn.

Lý do thành phố này được chính quyền Việt Nam Cộng hòa chọn làm kinh đô, bên cạnh vì nơi đây là đô thị lớn nhất của miền Nam lúc bấy giờ, còn bởi nguyên do lịch sử: Sài Gòn là chốn phố thị lâu đời và nhộn nhịp hàng đầu của toàn cõi Nam kỳ suốt từ thời phong kiến cho đến thời thuộc địa.

Một bản sắc đầy tính đa dạng, phức tạp nhưng độc đáo của Sài Gòn đã dần được vun đắp, thành hình men theo dòng lịch sử đầy những khúc quanh và biến động ấy.

Tòa đô chánh Sài Gòn, năm 1965.

Tháng 12/1998, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức lễ kỷ niệm “300 năm Sài Gòn”, với hàng loạt những sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, khoa học, lẫn các chương trình phúc lợi, an sinh xã hội đi kèm. [21]

Có thể thấy, dù thành phố này khi ấy đã bước sang năm thứ 22 được đặt tên theo nhà sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, thế nhưng người ta vẫn lựa chọn cái tên “Sài Gòn” để kỷ niệm một cột mốc lịch sử quan trọng của địa phương.

Con số 300 năm này được tính từ dấu mốc năm 1698, khi quan Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh cho lập vùng đất Sài Gòn ngày nay, mà thời đó gọi là Sài-côn, “làm huyện Tân-bình, dựng dinh Phiên-trấn”, [22] biến nơi này lần đầu tiên trở thành một đơn vị hành chính do người Việt thiết lập và cai quản.

Vùng đất Sài Gòn trước thời Nguyễn Hữu Cảnh từng thuộc về lãnh thổ của lần lượt các vương quốc Phù Nam, Chân Lạp, và sau cùng là Đế quốc Khmer. Theo một số nghiên cứu, người Khmer đặt tên nơi này là “Prey Nokor”, có nghĩa là “thành phố rừng”. [23]

Từng là đô thị khá phát triển của Đế quốc Khmer vào thế kỷ 11-12, thế nhưng từ những năm 1620, nơi này dần dần chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa Việt và rồi trở thành một vùng đất định cư của người Việt, theo dòng người xuôi Nam tị nạn dưới thời Trịnh-Nguyễn phân tranh. [24] Sau khi Nguyễn Hữu Cảnh cho xây dựng chính quyền đầu tiên của người Việt, vùng đất này nhanh chóng phát triển theo hướng thành thị hóa, không lâu sau đã thay thế địa vị của Hội An để trở thành thương cảng quốc tế hàng đầu của cả xứ Đàng Trong. [25]

Để có được thành tựu phát triển đó, cũng phải kể đến công của những lưu dân người Hoa đã đến vùng đất này từ rất sớm. Năm 1679, chúa Nguyễn cho phép đoàn người gồm 3.000 quân và dân của hai cựu tướng Minh triều là Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch đến Đàng Trong tị nạn. Họ đã được chúa giao cho vùng đất Đông Phố tức Gia Định sau này. Tại đây, đoàn người Hoa đã khai hoang, lập phố, phát triển nên một nền thương mại sầm uất. [26]

Cũng chính bởi một gốc rễ phức tạp như thế, với sự quần tụ cả ba nền văn hóa Khmer, Việt, và Hoa, đã khiến cho tên gọi “Sài Gòn” trở thành một chủ đề gây tranh cãi suốt nhiều năm trong học giới. [27]

Huỳnh Tịnh Của cho rằng Sài Gòn có nghĩa là “củi gòn”, ghép từ chữ “sài” trong âm Hán – Việt nghĩa là “củi”, và “gòn” là bông gòn trong tiếng Việt. Còn theo Trương Vĩnh Ký, cái tên này xuất phát từ cách người Việt đọc trại tên Khmer cũ của vùng đất, tức “Prey Nokor” mà thành. Học giả họ Trương và Lê Văn Phát sau này cũng kế thừa quan điểm của Huỳnh Tịnh Của, cho rằng sở dĩ có cách đọc trại trên là vì vùng đất Sài Gòn xưa trồng nhiều cây gòn.

Học giả Vương Hồng Sển không đồng tình với giả thuyết trên, cho rằng Sài Gòn là cách người Việt đọc trại âm Quảng Đông của từ “Đề Ngạn”, tức tên mà người Hoa gọi khu vực Chợ Lớn. Còn theo nhà nghiên cứu người Pháp Louis Malleret, tên Sài Gòn xuất phát từ chữ “Tây Cống”, tức tên mà người Hoa đặt cho thành phố này, có nghĩa là vùng đất cống cho Tây.

Hơn một thế kỷ rưỡi đã trôi qua kể từ những quan điểm lý giải đầu tiên, đến nay cuộc hành trình truy tìm nguồn gốc tên gọi Sài Gòn vẫn chưa hề dừng lại.

Một điểm đáng chú ý nữa, đó là Sài Gòn không phải chỉ đợi đến năm 1955 mới trở thành thủ đô. Gần hai thế kỷ trước đó, nơi này đã được chọn làm thủ phủ của chính quyền chúa Nguyễn vào năm 1790, sau khi Nguyễn Phúc Ánh cho xây dựng tại đây tòa thành Bát Quái và thiết lập Gia Định kinh.

Từ đó về sau, Sài Gòn-Gia Định luôn là trung tâm kinh tế-chính trị trọng yếu của miền Nam. Thậm chí, vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, như nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu nhận định, Sài Gòn đã trở thành xứ “đô hội” lớn nhất cả nước. [28]

Những sự kiện nêu trên không chỉ cho thấy mức độ phát triển về kinh tế và địa vị chính trị của Sài Gòn hậu kỳ thời Trung đại, mà còn gián tiếp cho thấy nơi đây kể từ mấy trăm năm trước đã có một tầm vóc văn hóa không hề nhỏ, khả dĩ tạo thành gốc rễ cho sức sống văn hóa của những giai đoạn về sau.

Sau hơn một thế kỷ rưỡi phát triển trong khung cảnh văn hóa Việt Nam thời kỳ phong kiến, pha lẫn với nét văn hóa của lưu dân người Hoa định cư tại vùng Chợ Lớn, Sài Gòn bắt đầu giai đoạn tiếp nhận văn hóa Pháp mạnh mẽ từ sau sự kiện thành Gia Định thất thủ tháng 2/1859.

Bản đồ thành phố Sài Gòn năm 1882. Nguồn ảnh: Bibliothèque nationale de France.

Sau khi chiếm đóng, người Pháp đã cho quy hoạch và xây dựng Sài Gòn theo mô hình một đô thị hiện đại Tây phương. Đặc biệt, kể từ Hiệp ước Giáp Tuất 1874, khi chính thức có được sáu tỉnh Nam kỳ, Pháp đã cho thành lập “thành phố Sài Gòn”, và định hướng phát triển nơi này trở thành một trung tâm kinh tế-chính trị của xứ Nam kỳ (Cochinchina) thuộc Pháp. [29]

Khi đã giành được quyền bảo hộ trên trọn vẹn lãnh thổ Việt Nam sau Hòa ước Patenôtre năm 1884, Pháp chia cả nước làm ba khu vực, với ba chế độ cai trị khác nhau. Trong đó, Nam kỳ (Cochinchina) là xứ thuộc địa, do người Pháp toàn quyền cai quản, còn Bắc kỳ (Tonkin) và Trung kỳ (Annam) là hai xứ do Pháp bảo hộ (riêng tại Trung kỳ triều đình Nguyễn vẫn được phép hoạt động). [30]

Sau đó, vào năm 1887, chính quyền Pháp cho đặt chức toàn quyền Đông Dương. Dinh Norodom, tức dinh Thống đốc Nam kỳ cũ tại Sài Gòn, được chọn làm Phủ Toàn quyền. [31] Sài Gòn từ đó đã trở thành trung tâm chính trị của toàn cõi Đông Dương (Indochine) thuộc Pháp.

Những công trình biểu tượng của thành phố đã dần mọc lên theo gót chân khai phá và khai thác của chính quyền thuộc địa, như Chợ Bến Thành, Nhà hát Thành phố, Nhà thờ Đức Bà, Thảo Cầm Viên, hay như Tòa Đô chánh (nay là trụ sở Ủy ban Nhân dân Thành phố), như Dinh Norodom (nay là Dinh Độc Lập), v.v. Những trục đường trung tâm và những hàng cây đôi bên đường cũng liên tục xuất hiện, kéo theo những dãy nhà dọc ngang kiến tạo nên quang cảnh thành phố.

Sài Gòn thời Pháp thuộc với xe ngựa và những cột Morris đặc trưng Pháp.

Sự phát triển của hạ tầng và cảnh quan đô thị tịnh tiến cùng không gian dân cư tạo nên bộ mặt của một Sài Gòn ngày càng mở mang. Từ chỗ dân số Sài Gòn – Chợ Lớn chỉ khoảng 48.000 vào năm 1862 khi Pháp vừa chiếm đóng, đến năm 1931 con số đã lên đến 256.000, và năm 1943 là gần 500.000. [32] Diện tích đô thị Sài Gòn cũng được khuếch đại lên nhiều lần, từ chỗ chỉ khoảng 2 km2 vào năm 1865, đã mở rộng thành 51 km2 vào năm 1931. [33]

Sau Hiệp định Genève năm 1954, Sài Gòn đón nhận một cộng đồng dân cư mang theo một làn sóng văn hóa mới: những người từ miền Bắc di cư vào Nam. Đợt di dân này đã khiến dân số Sài Gòn gia tăng đột biến, lên đến khoảng 2.000.000 người, gần gấp đôi so với 5 năm trước đó. [34]

Trụ sở Quốc hội thời Đệ nhất Cộng hòa và Hạ nghị viện thời Đệ nhị Cộng hòa. Ảnh chụp vào năm 1967. Ảnh: Pierre Nordique.

Sau khi trở thành thủ đô của Việt Nam Cộng hòa, bên cạnh nguồn viện trợ lớn từ phía Hoa Kỳ, các chính sách kinh tế của chính quyền Ngô Đình Diệm phát huy hiệu quả đã khiến nền kinh tế Nam Việt Nam phát triển nhanh chóng, với mức tăng trưởng bình quân 7,2% một năm trong giai đoạn 1957-1960. [35]

Cũng trong giai đoạn này, các nghiên cứu cho thấy hơn một nửa số nhà máy, xí nghiệp của Nam Việt Nam được đặt tại Sài Gòn, biến đô thành trở thành tụ điểm tập trung cao độ của nền kinh tế cả nước lúc đó. [36]

Với tỷ trọng của ngành dịch vụ chiếm đến 64% nền kinh tế vào năm 1972, Nam Việt Nam lúc bấy giờ dù chịu nhiều tác động của chiến tranh nhưng đã là một nền kinh tế năng động và hiện đại. Kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng cao, lên đến 85% vào năm 1960 và giảm xuống còn 70,1% vào năm 1970, phản ánh rõ tính chất của một nền kinh tế thị trường. [37] Đô thành Sài Gòn, hiển nhiên, chiếm vị trí trung tâm trong nền kinh tế thị trường thiên về dịch vụ này.

Hoạt động tham chiến của quân đội Hoa Kỳ đã kéo theo làn sóng người Mỹ xâm nhập ngày càng đông đúc vào đời sống Sài Gòn, đưa văn hóa nước này từng bước lan tỏa tại nơi đây. Văn hóa của Sài Gòn lại được tiếp nhận thêm một chất liệu mới, tạo nên sự pha lẫn giữa lối sống Âu Mỹ mới mẻ và lối sống của con người thành thị giữa thời cuộc binh đao, chiến loạn.

Có thể thấy, bản sắc của Sài Gòn không phải là cái gì đó cố định, nguyên ủy, mà mang hơi hướng của một sự tổng hợp, cố kết từ đa dạng các thành tố, các chất liệu khác nhau. Tính chất đa sắc ấy của căn tính Sài Gòn đã được hun đúc qua dòng lịch sử tuy không dài nhưng nhiều khúc quanh của đô thị này.

Thương xá Tax ở trung tâm Sài Gòn, năm 1965. Nguồn ảnh: LIFE.

50 năm – lưu mà không lạc

Không lâu sau ngày Sài Gòn sụp đổ, những cư dân Sài Gòn nói riêng hay Nam Việt Nam nói chung đã phải đối diện một cuộc khủng hoảng hiện sinh đầy khốc liệt. Có những người phải bỏ lại quê hương, có những người chịu cảnh lưu đày trên chính đất mẹ của mình.

Tháng 5/1975, chiến dịch di tản đầu tiên có sự hỗ trợ của Hải quân Hoa Kỳ ghi nhận hơn 70.000 người tị nạn đã được đưa đi theo các đội tàu Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa. [38] Thế nhưng, chỉ một tháng sau đó, chính quyền nước Mỹ cho biết đã có hơn 131.000 người Việt trong các trại tị nạn do nước này kiểm soát. [39]

Trong nước, chỉ sau hai tháng kể từ lúc tiếp quản miền Nam, một bài báo trên tờ AP cho biết chính quyền cộng sản đã đưa hơn 309.000 người đi cải tạo. [40] Những người này bao gồm các binh sĩ, cảnh sát, và công chức cũ của Việt Nam Cộng hòa.

Cũng trong tháng Bảy năm 1975, một bài báo trên tờ Newsday của Mỹ cho biết, chính quyền Việt Nam đã đặt kế hoạch di tản 125.000 người khỏi Sài Gòn để đưa đi kinh tế mới tại Bình Phước. [41]

Một trại cải tạo ở Bến Tre. Ảnh: Bill Herod.
Một trại cải tạo ở Bến Tre. Ảnh: Bill Herod.

Những cảm thức cay đắng, ngậm ngùi trong cảnh tình lưu lạc đã hun đúc nên cả một bầu trời văn chương âm nhạc rực rỡ. Hàng loạt các tác phẩm văn nghệ được chế tác từ tâm trạng hồi tưởng, nhớ mong trong những con người bị lịch sử trục xuất khỏi nơi chốn cư lưu thân thuộc của chính mình.

Cái tên Sài Gòn, khi đó, dù đã bị xóa đi trên những tờ căn cước, vẫn còn vẹn nguyên trong ý nghĩa của những mảnh căn cước văn hóa, khi vẫn được nhắc đến trong thơ ca, của cả những tác giả quốc nội lẫn hải ngoại.

Thuyền nhân Việt Nam đến Malaysia, năm 1978. Nguồn ảnh: Kaspar Gaugler/UNHCR.

Đơn cử như hình ảnh đô thành xuất hiện trong lời thơ của Du Tử Lê vào năm 1978, khi ông đang sống tại miền Nam California, Hoa Kỳ:

Nhớ em kim chỉ khứu tình
Trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre
Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
Nắng Trương Minh Giản trưa hè Tự Do.

Hay như những lời nhạc mà Nguyệt Ánh viết khi đã định cư tại Virginia, Mỹ quốc vào năm 1980:

Nắng Sài Gòn còn ấm không em?
Hai hàng cây bóng ngã bên thềm
Nắng ban mai xanh mầu mắt biếc
Gió ban chiều làm tóc em bay…

Thương xá Phước Lộc Thọ ở Little Saigon, thành phố Westminster, bang California. Nguồn ảnh: DHN/Wikimedia Commons.

Và rồi, mãi đến những năm 2000, cái tên Sài Gòn vẫn hiện lên trong những vần thơ của các thi sĩ trong nước, như những bài Sài GònSài Gòn vào xuân của Nguyễn Thụy Kha, hay Mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội của Hoàng Anh Tuấn, v.v. [42][43][44]

Tác giả Tịch Dạ trong một bài viết đăng trên Luật Khoa tạp chí hồi năm 2025 từng nhận định rằng, nền văn nghệ hải ngoại có giá trị xoa dịu nỗi đau thời thế và tiếp thêm sức sống cho con người sau cơn biến cuộc, đồng thời giúp bảo tồn và lan tỏa văn hóa – ngôn ngữ Việt ra khắp năm châu, cũng như giúp lưu giữ bức tranh hiện thực của quá khứ, bảo tồn sự thật lịch sử cho mai sau. [45]

Những điều đó có lẽ cũng đúng với các sáng tác về Sài Gòn sau năm 1975. Qua những văn nghệ phẩm hoài hương, ký ức đô thị về Sài Gòn được bảo lưu nguyên vẹn, kèm theo trong đó hiện thực lịch sử mà những cư dân đô thị ấy đã trải qua, đã trăn trở.

Người lao động trên đường ở trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Cao An Biên/Báo Thanh Niên.

Ở chiều ngược lại, qua sự ra đời và lưu truyền của các văn nghệ phẩm này, cái tên Sài Gòn cùng bản sắc văn hóa địa phương tiếp tục được khắc sâu vào tâm trí của bao người, dù có từng sống ở Sài Gòn hay không.

Cái chết của một địa danh, có lẽ, chỉ đến chừng nào ký ức về địa danh đó hoàn toàn biến mất.

50 năm Sài Gòn mất tên

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *