HĐGMVN IM LẶNG VỚI LUẬT TÔN GIÁO CHO PHÉP CHÍNH QUYỀN NGƯNG CHỨC LÃNH ĐẠO TÔN GIÁO

THÁI ĐỘ HĐGMVN Với LUẬT TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO SỬA ĐỔI

Trong nhiều năm qua, vấn đề tương quan giữa Giáo Hội Công giáo tại Việt Nam và chính quyền Cộng sản luôn là một đề tài gây tranh luận sâu sắc. Đặc biệt trong bối cảnh các quyền tự do căn bản, nhất là tự do tôn giáo, tiếp tục bị giới hạn bởi hệ thống pháp luật và cơ chế kiểm soát của nhà nước, sự im lặng hoặc thái độ dè dặt của một bộ phận hàng giáo phẩm khiến nhiều giáo dân thao thức và đau lòng. Cuộc tranh luận này không đơn thuần là vấn đề chính trị, nhưng liên quan trực tiếp đến căn tính ngôn sứ của Giáo Hội, sứ mạng bảo vệ chân lý và phẩm giá con người theo Tin Mừng và Học thuyết Xã hội Công giáo.***

Theo giáo huấn Công giáo, Giáo Hội không đồng hóa mình với bất kỳ chế độ chính trị nào. Tuy nhiên, Giáo Hội cũng không thể im lặng trước bất công. Thánh Giáo hoàng John Paul II từng khẳng định rằng quyền con người và tự do tôn giáo là nền tảng của mọi xã hội công chính. Công đồng Vatican II, trong tuyên ngôn Dignitatis Humanae, xác quyết rằng tự do tôn giáo là quyền bất khả xâm phạm của con người, không do nhà nước ban phát nhưng phát xuất từ chính phẩm giá con người. Giáo Hội vì thế có bổn phận lên tiếng khi quyền ấy bị chà đạp.

Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, nhiều tổ chức quốc tế tiếp tục ghi nhận các hạn chế nghiêm trọng về tự do tôn giáo. Ủy hội Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế (USCIRF) nhiều năm liên tiếp báo động về tình trạng kiểm soát sinh hoạt tôn giáo, việc bắt bớ các nhà hoạt động tôn giáo độc lập, cùng những quy định pháp luật mang tính can thiệp sâu rộng của nhà nước đối với đời sống tôn giáo.  *

Theo các báo cáo này, Luật Tín ngưỡng và Tôn giáo  cùng các nghị định hướng dẫn đã tạo ra một cơ chế mà trong đó mọi sinh hoạt tôn giáo đều phải chịu sự giám sát và cho phép của chính quyền. USCIRF đặc biệt chỉ trích tính can thiệp sau vào nội bộ của hệ thống pháp luật này.   Những sửa đổi mới đây càng làm dấy lên lo ngại khi nhà nước tự cho quyền can thiệp vào cơ cấu lãnh đạo nội bộ của các tôn giáo, kể cả khả năng đình chỉ hay vô hiệu hóa chức vụ của các chức sắc tôn giáo.

Theo thông tin cập nhật đến tháng 4-5/2026, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (sửa đổi) đã được Quốc hội Việt Nam thông qua vào ngày 23/4/2026 với 100% đại biểu có mặt tán thành, dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/1/2027.**

Điều gây đau xót đối với nhiều tín hữu là trước những diễn biến nghiêm trọng ấy, Hội đồng Giám mục Việt Nam hầu như không có phản ứng công khai đáng kể. Không có thư chung mạnh mẽ. Không có tuyên bố thần học rõ ràng về quyền tự trị của Giáo Hội trước quyền lực nhà nước. Không có lời bênh vực công khai cho quyền tự do tôn giáo như giáo huấn Công giáo đòi hỏi.

Sự im lặng ấy tạo nên một nghịch lý lớn. Trong lịch sử Giáo Hội, biết bao vị tử đạo Việt Nam đã hy sinh mạng sống để bảo vệ quyền tự do đức tin trước quyền lực chính trị. Các ngài không xem đức tin là một “giấy phép hành chính” do triều đình ban phát. Các thánh tử đạo đã khẳng định rằng quyền thờ phượng Thiên Chúa vượt trên mọi quyền lực thế gian.

Ngày nay, tuy không còn các cuộc bách hại đẫm máu như thời vua Minh Mạng hay Tự Đức, nhưng cơ chế kiểm soát tôn giáo bằng pháp luật và hành chính lại đặt ra một hình thức lệ thuộc khác: biến đời sống tôn giáo thành một thực thể phải hoạt động trong giới hạn được nhà nước cho phép. Khi Giáo Hội không phản ứng đủ mạnh trước xu hướng ấy, nhiều giáo dân đặt câu hỏi: liệu hàng giáo phẩm có đang đánh đổi vai trò ngôn sứ để đổi lấy sự ổn định, phát triển giả tạo GH ?

Học thuyết Xã hội Công giáo chưa bao giờ dạy sự vâng phục mù quáng đối với quyền lực chính trị. Trái lại, giáo huấn Công giáo nhấn mạnh rằng nhà nước chỉ chính đáng khi phục vụ công ích và tôn trọng luật luân lý. Khi quyền lực trở nên công cụ áp chế chân lý hay nhân phẩm con người, người Kitô hữu có quyền và đôi khi có bổn phận lên tiếng phản kháng bằng phương thế ôn hòa và lương tâm ngay chính.

Thánh Oscar Romero từng bị chỉ trích là “làm chính trị” khi lên án đàn áp và bất công tại El Salvador. Nhưng ngày nay ngài được Giáo Hội tôn phong hiển thánh vì đã đứng về phía người nghèo và nạn nhân của bạo lực. Ngược lại, lịch sử cũng cho thấy những thời kỳ mà một số thành phần Giáo QUYỀN thoả hiệp với  quyền lực chính trị độc tài đã làm suy yếu chứng tá Tin Mừng.

Nhiều người lo ngại rằng hiện nay tại Việt Nam đang xuất hiện xu hướng “quốc doanh hóa” Công giáo bằng sự cộng tác quá mức giữa một số chức sắc và bộ máy chính trị. Việc nhiều linh mục tham gia các tổ chức do nhà nước kiểm soát hoặc xuất hiện thường xuyên trong các sinh hoạt mang tính tuyên truyền chính trị khiến không ít tín hữu cảm thấy hoang mang. Một số giám mục và linh mục thường xuyên nhấn mạnh đến “đồng hành cùng dân tộc”, nhưng lại tránh né các vấn đề như tù nhân lương tâm, bất công đất đai, tham nhũng hệ thống, hay quyền tự do của các cộng đồng tôn giáo độc lập.

Trong khi đó, các tổ chức quốc tế vẫn tiếp tục báo động về các vụ đàn áp những cộng đồng tôn giáo không nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của nhà nước, bao gồm các nhóm Tin Lành sắc tộc, Phật giáo độc lập, Cao Đài và Hòa Hảo độc lập.   Điều này cho thấy vấn đề không chỉ liên quan riêng Công giáo, nhưng là quyền tự do căn bản của toàn xã hội dân sự.

Một điểm gây tranh cãi khác là việc một số vị lãnh đạo tôn giáo phát biểu theo hướng phủ nhận hoặc giảm nhẹ các vi phạm tự do tôn giáo tại Việt Nam trước các diễn đàn quốc nội , quốc tế. Đối với nhiều giáo dân, điều này không chỉ là một vấn đề ngoại giao, mà còn là vấn đề luân lý. Bởi nếu sự thật về những giới hạn và áp lực mà các cộng đồng tôn giáo đang chịu bị che đậy, thì Giáo Hội có nguy cơ đánh mất tiếng nói ngôn sứ của mình. ( GM Nguyễn Hữu Long và Đặng Hữu Cầu đã công khai tuyên bố Việt Nam! Có TDTG tại Đại hội Uỷ Ban Giáo Dân tại TTMV GP Thái Bình)

Trong Tin Mừng, Đức Kitô không chọn sự thỏa hiệp với quyền lực . Ngài đứng về phía sự thật, dù điều đó dẫn đến thập giá. Giáo Hội trung thành với Đức Kitô không thể chỉ là một tổ chức giữ im lặng để tồn tại yên ổn, phát triển hình thức xa hoa hoành tráng. Giáo Hội phải là lương tâm đạo đức của xã hội.

Lịch sử Việt Nam từng có những chứng nhân như Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận, người đã chịu tù đày nhiều năm nhưng vẫn giữ chứng tá đức tin và phẩm giá Kitô hữu trước áp lực chính trị.   Chính đời sống của ngài cho thấy rằng sự trung thành với Giáo Hội không đồng nghĩa với im lặng trước bất công.

Người giáo dân hôm nay vì thế có quyền đặt câu hỏi, trong tinh thần hiệp thông và yêu mến Giáo Hội: liệu sự im lặng trước bất công có còn là sự khôn ngoan mục vụ, hay đã trở thành một hình thức thỏa hiệp làm suy yếu căn tính ngôn sứ của Giáo Hội? Và liệu một Giáo Hội quá lệ thuộc vào sự cho phép của quyền lực chính trị có còn đủ tự do để loan báo chân lý Tin Mừng cách trọn vẹn hay không?

Đó không phải là câu hỏi chống Giáo Hội. Trái lại, đó là tiếng thao thức của những tín hữu mong Giáo Hội tại Việt Nam tiếp tục là ánh sáng cho xã hội, là tiếng nói của lương tâm, và là nơi bảo vệ phẩm giá con người trước mọi hình thức áp bức , bất công.

Vinh Sơn Liêm 05/11/26

 

***  https://ordosocialis.de/wp-content/uploads/CGL-vietnamesisch.pdf

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *