KHÔNG NÊN VÌ DỊ ỨNG VỚI MỘT TỪ MÀ SỬA QUỐC CA VIỆT NAM CỘNG HÒA

“QUỐC GIA ĐẾN NGÀY GIẢI PHÓNG”  KHÔNG PHẢI  LÀ ” ĐÁP LỜI SÔNG NÚI” 

Trong một bộ phận cộng đồng người Việt hải ngoại hiện nay có ý kiến cho rằng câu mở đầu Quốc ca Việt Nam Cộng Hòa: “Này Công Dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng” gây “dị ứng”, bởi chữ “giải phóng” đã bị chế độ cộng sản sử dụng quá nhiều sau năm 1975, đặc biệt trong những cụm từ như “giải phóng miền Nam”, “ngày giải phóng”, “quân giải phóng”.

Tâm lý ấy có thể hiểu được từ kinh nghiệm lịch sử của những người phải rời bỏ quê hương sau ngày 30-4-1975. Nhưng từ cảm xúc đối với cách sử dụng một từ của phía cộng sản mà đi đến kết luận rằng chữ giải phóng” trong Quốc ca VNCH không còn thích hợp, thậm chí cần bỏ hoặc thay đổi, thì không vững về lịch sử, ngôn ngữ và giá trị biểu tượng. “Giải phóng” không phải là từ ngữ độc quyền của cộng sản.

Trước hết cần đặt một câu hỏi rất đơn giản: Ai có quyền sở hữu chữ “giải phóng”? Không một chính đảng hay chế độ nào có quyền ấy. “Giải phóng” về căn bản có nghĩa là giải thoát khỏi một tình trạng áp bức, lệ thuộc, chiếm đóng hoặc mất tự do. Nội dung chính trị của chữ ấy được xác định bởi ai giải phóng ai, giải phóng khỏi cái gì và trong hoàn cảnh lịch sử nào. Chính sử liệu thời VNCH cho thấy các nhà lãnh đạo quốc gia cũng sử dụng khái niệm “giải phóng”, đặc biệt theo nghĩa giải phóng miền Bắc khỏi chế độ cộng sản. Đây không phải suy diễn của người viết.

Thời Tổng thống Ngô Đình Diệm: Các tài liệu đương thời của Hoa Kỳ ghi nhận chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm đã thành lập một tổ chức được gọi trong tài liệu Anh ngữ là:

“Committee for the Liberation of North Vietnam” — Ủy ban Giải phóng Miền Bắc Việt Nam. Các nghiên cứu đương thời ghi nhận tổ chức này hoạt động từ khoảng năm 1958. Một tài liệu hiện được lưu trong CIA Reading Room cũng đề cập trực tiếp đến “Committee for the Liberation of North Vietnam”. (The New York Review of Books⁠)

Điều đáng lưu ý ở đây không phải đánh giá hiệu quả hoạt động của tổ chức, mà là một sự kiện ngôn ngữ-chính trị rất rõ: Khái niệm “giải phóng miền Bắc” đã tồn tại trong chính sách chống cộng của phía quốc gia.

 Tướng Nguyễn Khánh: giải phóng miền Bắc: Đến năm 1964, ý niệm này càng công khai. Ngày 19-7-1964, trong cuộc mít-tinh lớn tại Sài Gòn, Nguyễn Khánh phát động khẩu hiệu “Bắc tiến”, kêu gọi không chỉ bảo vệ miền Nam mà còn hướng tới miền Bắc. Tài liệu lịch sử về sự kiện ghi nhận lời kêu gọi tiến ra Bắc và “liberate North Vietnam” — giải phóng miền Bắc Việt Nam. (Wikipedia⁠) Như vậy, cùng một chữ “giải phóng”, nhưng đối tượng và nội dung chính trị hoàn toàn đảo ngược so với cách tuyên truyền của Hà Nội. Phía cộng sản nói: “Giải phóng miền Nam.” Phía quốc gia có lúc nói: “Giải phóng miền Bắc. Bản thân hai chữ GIẢI PHÓNG vì thế không thể được coi là dấu hiệu nhận diện cộng sản.

Nguyễn Cao Kỳ và “Liberation of North Vietnam” Bằng chứng năm 1965 còn rõ hơn. Ấn phẩm đương thời Vietnam Fights and Builds, số 6, có nội dung liên quan đến: “Liberation of North Vietnam — July 20, 1965.” Tài liệu thuật lại tinh thần vận động lúc đó bằng ý tưởng rằng dân chúng hướng tới mục tiêu giải phóng miền Bắc Việt Nam. (Wikimedia Commons⁠). Như vậy, chúng ta có một chuỗi sử liệu trải qua nhiều chính quyền: TT Ngô Đình Diệm →  TƯỚNG Nguyễn Khánh → PTT  Nguyễn Cao Kỳ. Điều này đủ để bác bỏ lập luận rằng chữ “giải phóng” vốn là chữ của cộng sản và người quốc gia không sử dụng nó. Lịch sử cho thấy điều ngược lại. Quan trọng hơn: chính Quốc ca VNCH đã dùng chữ “giải phóng” Lời chính thức được lưu truyền của Tiếng Gọi Công Dân mở đầu:“Này Công Dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng…”

Vietnamese American Museum cũng ghi nhận Tiếng Gọi Công Dân là Quốc ca chính thức của Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1956 đến 1975 và ghi nguyên câu mở đầu này. (Vietnamese Heritage Museum⁠). Các tài liệu nghiên cứu về lịch sử Quốc ca cho biết khi Quốc hội Lập hiến VNCH làm việc năm 1956, vấn đề Quốc kỳ và Quốc ca đã được xem xét; cuối cùng Quốc hội quyết định duy trì Quốc Dân Hành Khúc/Tiếng Gọi Công Dân làm Quốc ca, với phần lời có câu “Quốc gia đến ngày giải phóng”. (Vinh Danh QLVNCH và Bảo Vệ  CỜ VÀNG⁠) Đây là điểm có ý nghĩa đặc biệt. Một khi bài hát đã được cơ quan đại diện lập hiến của quốc gia lựa chọn làm QUỐC CA, thì lời Quốc ca không còn đơn thuần là một câu hát của một cá nhân.Nó trở thành di sản chính trị và lịch sử của Việt Nam Cộng Hòa. “Giải phóng” trong Quốc ca phải được hiểu theo hoàn cảnh lịch sử của Quốc ca. Không thể lấy cách tuyên truyền của cộng sản sau này để quay ngược lại định nghĩa một câu Quốc ca của phía quốc gia. Đó là một sai lầm về phương pháp lịch sử.

Khi hát: “Quốc gia đến ngày giải phóng”, người Việt quốc gia không hề hát: “Cộng sản giải phóng miền Nam.” Hai mệnh đề hoàn toàn khác nhau.

Trong cấu trúc của Tiếng Gọi Công Dân, “giải phóng” gắn với Quốc gia, rồi tiếp tục bằng lời kêu gọi công dân hy sinh cho tương lai quốc dân, bảo vệ núi sông, giải nguy nòi giống và giữ gìn cõi bờ. Toàn bộ văn cảnh đặt chữ “giải phóng” trong tinh thần quốc gia, công dân và bảo vệ đất nước, chứ không đặt nó trong hệ tư tưởng Marx-Lenin. Lời Quốc ca được các nguồn lịch sử lưu lại đầy đủ theo cấu trúc đó. (Vietnamese Heritage Museum⁠). Do đó, tách riêng hai chữ “giải phóng” khỏi toàn bộ câu và toàn bộ bài hát rồi gán cho nó nội dung chính trị của đối phương là tách từ ngữ khỏi văn cảnh lịch sử.Không nên để đối phương chiếm luôn ngôn ngữ của mình. Đây có lẽ là nghịch lý lớn nhất. Nếu vì cộng sản thường xuyên sử dụng chữ “giải phóng” mà người Việt quốc gia quyết định không dùng chữ ấy nữa, thì vô hình trung chúng ta lại công nhận rằng cộng sản có quyền sở hữu từ ngữ đó. Họ không có quyền ấy. Cũng như các chữ: độc lập, tự do, dân chủ, nhân dân, tổ quốc, cách mạng, hòa bình đều từng được chế độ cộng sản sử dụng với tần suất rất cao. Chẳng lẽ vì vậy người Việt quốc gia cũng phải từ bỏ tất cả những chữ này? Dĩ nhiên là không. Một từ không mang bản chất cộng sản hay quốc gia tự thân. Ý nghĩa chính trị của nó nằm trong văn cảnh, chủ thể và mục tiêu mà nó phục vụ. Quốc ca là một di sản lịch sử, không phải văn bản có thể sửa theo cảm xúc của từng thế hệ. Đối với người Việt hải ngoại, Tiếng Gọi Công Dân ngày nay còn có một ý nghĩa vượt ra ngoài chức năng của một bài hát.Nó gắn với một quốc gia đã tồn tại, với lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, với quân dân VNCH và với ký ức của hàng triệu người. Chính vì vậy, nếu cộng đồng tiếp tục sử dụng Quốc ca VNCH như một di sản lịch sử và biểu tượng, nguyên tắc hợp lý nhất là: Tôn trọng nguyên bản. Là tôn trọng sự thật  lịch sử ,không nên vì một thế hệ có cảm giác khó chịu với một chữ mà tự ý thay chữ của Quốc ca. Bởi hôm nay có người không thích “giải phóng”; ngày mai người khác có thể không thích “thù nước”; người khác nữa có thể muốn sửa “xông pha khói tên”. Nếu cứ như vậy, cuối cùng chúng ta không còn hát Quốc ca VNCH nữa mà đang hát một phiên bản mới do hậu thế tự biên tập. Điều đó mới thực sự làm mất giá trị lịch sử của Quốc ca.

Cần phân biệt cảm xúc cá nhân với giá trị sử liệu. Người Việt tỵ nạn cộng sản có lý do lịch sử để đau đớn khi nghe chế độ Hà Nội gọi ngày 30-4-1975 là “ngày giải phóng”. Cảm xúc đó đáng được tôn trọng. Nhưng cảm xúc không thể thay đổi sử liệu.

Sự kiện lịch sử vẫn là: chữ “giải phóng” không phải do cộng sản sáng tạo; phía quốc gia cũng sử dụng khái niệm ấy; các lãnh đạo VNCH từng nói đến việc giải phóng miền Bắc khỏi cộng sản; và chính Quốc ca VNCH đã trang trọng mở đầu bằng: “Này Công Dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng.”. Vì vậy, phản đối câu này chỉ vì hai chữ “giải phóng” đã bị cộng sản sử dụng sau 1975 là không đủ cơ sở về lịch sử và ngôn ngữ. Hãy trả chữ “giải phóng” về đúng vị trí của nó

Điều cần làm không phải là xóa chữ giải phóng” khỏi Quốc ca VNCH. Ngược lại, cần giải thích cho thế hệ sau hiểu rằng giải phóng” không thuộc độc quyền của cộng sản. Trong truyền thống của Việt Nam Cộng Hòa, nó từng có một nội hàm hoàn toàn khác: giải phóng con người khỏi áp bức, bảo vệ tự do và, trong một số diễn ngôn chính trị của chính quyền VNCH, giải phóng miền Bắc khỏi chế độ cộng sản.  Bởi vậy, khi người Việt quốc gia đứng nghiêm dưới Cờ Vàng và hát: “Này Công Dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng” họ không hát ngôn ngữ tuyên truyền của ngày 30-4-1975. Họ đang hát Quốc ca của chính Việt Nam Cộng Hòa. Một Quốc ca đã đi qua lịch sử của quốc gia ấy, được duy trì qua Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa, và ngày nay tiếp tục tồn tại trong ký ức của một cộng đồng lưu vong. (Vietnamese Heritage Museum⁠) Vì thế, bảo tồn Quốc ca không chỉ là giữ một giai điệu.

Bảo tồn Quốc ca còn có nghĩa là tôn trọng lời ca đã trở thành một phần của lịch sử. Không nên để việc chế độ cộng sản chiếm dụng hai chữ “giải phóng” sau này khiến người Việt quốc gia tự xóa chính hai chữ ấy khỏi di sản của mình. “Quốc gia đến ngày giải phóng” không phải là câu cần tránh né. Đó là câu cần được đặt trở lại đúng lịch sử của nó.

Lý Thanh Liêm PTSG

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *