PHẢN BIỆN NGÀY 2 THÁNG 9. HÃY TRẢ LẠI SỰ THẬT LỊCH SỬ

 

ĐỘC LẬP DÂN TỘC HAY HUYỀN THOẠI ĐỘC QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN

Hằng năm, cứ đến ngày 2 tháng 9, chính quyền Cộng sản Việt Nam lại tổ chức những cuộc mít-tinh, diễn binh và chương trình tuyên truyền quy mô lớn. Toàn bộ hệ thống truyền thông do nhà nước kiểm soát đồng loạt lặp lại một luận điệu quen thuộc: Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản đã đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập cho Việt Nam vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Cách trình bày ấy giản lược một giai đoạn lịch sử hết sức phức tạp thành câu chuyện độc quyền công trạng của một đảng chính trị. Nó xóa bỏ vai trò của các lực lượng quốc gia, của toàn thể nhân dân Việt Nam và đặc biệt là hoàn cảnh quốc tế đã làm cho chế độ thuộc địa sụp đổ. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 có thể là một mốc lịch sử quan trọng, cần được nghiên cứu nghiêm túc. Nhưng tôn trọng lịch sử không có nghĩa là chấp nhận huyền thoại chính trị do nhà cầm quyền CS dựng lên. “ 2/9 là ngày đảng CSVN lãnh đạo, dành Độc Lập cho dân tộc Việt Nam “ là một tuyên bố dối trá, xuyên tạc lịch sử

Có thật là cộng sản đã đánh sập bộ máy thuộc địa Pháp năm 1945?

Sự thật đầu tiên cần được minh xác  là  khi Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945, Việt Minh chưa hề đánh bại quân đội Pháp trong một cuộc chiến tranh giải phóng. Từ năm 1940, quân đội Nhật đã tiến vào Đông Dương. Bộ máy thuộc địa Pháp vẫn tồn tại nhưng hoạt động dưới sự kiểm soát của Nhật. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật tiến hành đảo chính, tước khí giới quân Pháp và phá bỏ hệ thống cai trị của Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Như vậy, lực lượng trực tiếp đánh sập bộ máy thuộc địa Pháp tại Việt Nam vào tháng 3 năm 1945 là quân đội Nhật, không phải Đảng Cộng sản Đông Dương.

Sau cuộc đảo chính, ngày 11 tháng 3 năm 1945, Hoàng đế Bảo Đại tuyên bố hủy bỏ các hiệp ước bảo hộ với Pháp và công bố nền độc lập của Việt Nam. Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập ngày 17 tháng 4 năm 1945, sử dụng quốc hiệu Đế quốc Việt Nam và tiến hành thống nhất nền hành chính ba miền Bắc–Trung–Nam. https://www.voatiengviet.com/a/quoc-gia-viet-nam-doc-lap-ngay-nao/6214327.html

Nền độc lập ấy bị giới hạn nghiêm trọng vì quân Nhật vẫn hiện diện tại Việt Nam. Tuy nhiên, sự kiện này chứng minh rằng tuyên bố chấm dứt chế độ bảo hộ của Pháp đã diễn ra gần sáu tháng trước ngày 2 tháng 9. Đã bác bỏ hoàn toàn việc đảng và chính quyền tay sai tự viết “lịch sử” .cho chính họ một cách dối trá. Đảng CSVN dành độc lập dân tộc từ tay thực dân Pháp

Khoảng trống quyền lực sau khi Nhật đầu hàng

Ngày 14–15 tháng 8 năm 1945, Nhật Bản chấp nhận yêu cầu đầu hàng của Đồng Minh. Văn kiện đầu hàng chính thức được ký ngày 2 tháng 9 năm 1945. Tư liệu ngoại giao Hoa Kỳ xác nhận Nhật đã chấp nhận Tuyên bố Potsdam từ ngày 14 tháng 8, mở đường cho việc giải giới quân Nhật tại Đông Dương. Office of the Historian, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ

Sự đầu hàng đột ngột của Nhật tạo ra một khoảng trống quyền lực rất lớn: Bộ máy thuộc địa Pháp đã bị Nhật phá bỏ từ tháng 3; Chính phủ Trần Trọng Kim còn non trẻ và không có một quân đội đủ mạnh; Quân Đồng Minh chưa tiến vào giải giới quân Nhật; Các lực lượng quốc gia bị phân tán và chưa xây dựng được một cơ cấu phối hợp; Việt Minh, với tổ chức chặt chẽ hơn, nhanh chóng chiếm các cơ quan công quyền, Cướp chính quyền .

Cuộc Cách mạng tháng Tám vì thế chủ yếu là một cuớp chính quyền trong khoảng trống do sự đầu hàng của Nhật tạo ra. Điều này cho thấy  khả năng lừa bịp dân chúng của Việt Minh và lợi dụng thời cơ ,  vớ  hai điểm chính : người dân thiếu thông tin và hiểu biết về chế độ cộng sản, cộng với khao khát đánh đuổi thực dân Pháp. Nhưng nó hoàn toàn khác với luận điệu tuyên truyền rằng Đảng Cộng sản đã dùng sức mạnh quân sự đánh bại Pháp và trao độc lập cho dân tộc vào ngày 2 tháng 9. Ngay chính bản Tuyên ngôn do Hồ Chí Minh đọc cũng thừa nhận: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị.” Trình tự các sự kiện rất rõ ràng: Pháp đã bị Nhật loại bỏ; Nhật đầu hàng Đồng Minh; triều Nguyễn chấm dứt; Việt Minh tiến vào nhanh yay cướp chính quyền. Một tài liệu của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng mô tả nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập trong khoảng thời gian giữa hai sự kiện: Nhật đầu hàng và Pháp quay trở lại. Office of the Historian

Do đó, ngày 2 tháng 9 đánh dấu thời điểm một chính quyền mới tuyên bố chủ quyền giữa khoảng trống quyền lực hậu chiến, chứ không phải ngày quân đội Pháp bị đánh bại. Trận Điện Biên Phủ chỉ xảy ra gần chín năm sau, vào năm 1954. Khoảng cách chín năm ấy tự nó đã bác bỏ việc đồng nhất “Tuyên ngôn ngày 2 tháng 9” với “chiến thắng đánh bại Thực dân Pháp”.

Độc lập không thể là tài sản của một đảng

Khát vọng độc lập không do Hồ Chí Minh hay Đảng Cộng sản tạo ra. Đó là khát vọng lâu đời của toàn dân tộc Việt Nam. Trước khi Đảng Cộng sản xuất hiện đã có:

  • Phong trào Cần Vương;
  • Khởi nghĩa Yên Thế;
  • Phong trào Đông Du của Phan Bội Châu;
  • Phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh;
  • Việt Nam Quốc Dân Đảng và cuộc khởi nghĩa Yên Bái;
  • Các tổ chức Đại Việt, những đảng phái quốc gia và nhiều lực lượng yêu nước khác.

Hàng vạn người Việt Nam thuộc nhiều khuynh hướng chính trị đã chịu tù đày, lưu vong hoặc hy sinh trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Đảng Cộng sản không có quyền chiếm đoạt sự hy sinh chung ấy rồi biến lịch sử dân tộc thành tiểu sử của riêng mình. Cũng cần công bằng nhìn nhận rằng nhiều người tham gia Việt Minh năm 1945 là những người yêu nước chân thành. Không phải tất cả đều là đảng viên cộng sản hoặc hiểu rõ mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa Marx–Lenin. Danh nghĩa “Việt Nam Độc lập Đồng minh hội ” đã thu hút nhiều tầng lớp vì lời kêu gọi cứu nước, chứ không nhất thiết vì họ lựa chọn một chế độ cộng sản độc đảng độc ác. Bi kịch bắt đầu khi thành quả của một phong trào toàn dân dần bị chuyển thành quyền lực độc quyền của một đảng cộng sản tay sai cộn sản quốc tế .

Quốc gia độc lập trên danh nghĩa, nhưng dân chúng  không thật sự tự do và làm chủ Quốc Gia

Độc lập không chỉ có nghĩa là thay lá cờ, đổi quốc hiệu hoặc đưa người bản xứ vào những công sở của chế độ thuộc địa cũ. Độc lập phải bao gồm ít nhất ba yếu tố:

  1. Chủ quyền quốc gia không bị ngoại bang chi phối;
  2. Người dân có quyền lựa chọn và thay đổi chính quyền;
  3. Mọi lực lượng chính trị đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và quốc dân.

Nếu một đảng tự nhận mình là lực lượng duy nhất có quyền lãnh đạo, cấm đối lập chính trị, kiểm soát báo chí, hạn chế tự do hội họp và không cho người dân lựa chọn chính quyền qua những cuộc bầu cử tự do, thì đó mới chỉ là sự độc lập của bộ máy cai trị, chưa phải quyền tự quyết đầy đủ của nhân dân. Sau năm 1945, chính quyền Hồ Chí Minh ngày càng gắn Việt Nam vào khối cộng sản quốc tế. Trong chiến tranh, miền Bắc nhận viện trợ quân sự, kinh tế và cố vấn quy mô lớn từ Trung Quốc và Liên Xô. Cải cách ruộng đất được thực hiện dưới ảnh hưởng của mô hình đấu tranh giai cấp Trung Quốc, để lại những hậu quả đặc biệt đau thương.

Sau năm 1975, Việt Nam nghiêng về Liên Xô và trở thành một mắt xích trong cuộc đối đầu giữa các cường quốc cộng sản. Nói rằng Việt Nam “chưa bao giờ có chủ quyền pháp lý” là chưa đầy đủ. Nhưng nhận định rằng quyền tự chủ thực chất của Việt Nam nhiều lần bị giới hạn bởi ý thức hệ, chiến tranh và sự lệ thuộc vào các cường quốc là có cơ sở. Đó là sự phân biệt cần thiết giữa độc lập theo nghĩa pháp lý và khả năng tự quyết trong thực tế.

Sau khi Liên Xô sụp đổ. Lệ thuộc  Tàu cộng ngày càng lún sâu

Khi Liên Xô tan rã, Hà Nội mất chỗ dựa chiến lược quan trọng nhất. Hội nghị Thành Đô năm 1990 mở đường cho việc bình thường hóa quan hệ Việt–Tàu năm 1991. Từ đó, quan hệ giữa hai đảng cộng sản ngày càng được diễn tả bằng những công thức như “16 chữ vàng”, “bốn tốt”, “đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” và gần đây là xây dựng một “cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam–Tàu cộng  có ý nghĩa chiến lược”. Trong tuyên bố chung công bố vào tháng 4 năm 2026, hai chính quyền tiếp tục cam kết nâng cao quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện và xây dựng “cộng đồng chia sẻ tương lai” ở một mức độ cao hơn. Cổng Thông tin Chính phủ Việt Nam

Dựa vào những chính sách  ngoại giao, quân sự , kinh tế và quyền quản trị lãnh thổ  để kết luận rằng Việt Nam “hầu như  là một nước chư hầu của Trung Quốc”. Người dân hiểu biết  có đủ cơ sở để lo ngại về một tình trạng lệ thuộc bất cân xứng: Hai đảng duy trì một quan hệ ý thức hệ đặc biệt; Tàu Cộng là nguồn nhập khẩu hàng đầu của Việt Nam; Nhiều ngành xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc nguyên liệu, máy móc và linh kiện TC; Không dám liên minh phản đối Bắc Kinh tiếp tục đưa ra những yêu sách bành trướng tại Biển Đông; Phản ứng của Hà Nội thường bị giới hạn bởi nhu cầu bảo vệ quan hệ giữa hai chế độ. Thà mất Nước hơn mất quyền cai trị của đảng.

Dữ liệu của Ngân hàng Thế giới cho thấy Tàu Cộng là nguồn nhập khẩu hàng đầu của Việt Nam năm 2023. World Integrated Trade Solution⁠ Các phân tích thương mại cũng cho thấy nhiều ngành xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc nặng nề vào linh kiện và nguyên liệu đầu vào từ Tàu Cộng. Reuters⁠ .Hình thức lệ thuộc đáng lo ngại nhất không chỉ nằm trong thương mại. Nó còn nằm trong mối quan hệ giữa hai đảng cầm quyền cùng có lợi ích duy trì chế độ độc đảng. Khi sự tồn tại của đảng được đặt cao hơn quyền lợi lâu dài của quốc gia, chính sách đối ngoại rất dễ trở thành công cụ bảo vệ chế độ thay vì bảo vệ chủ quyền dân tộc.

Nghịch lý của “Ngày Độc lập”

Một nhà nước tổ chức những đại lễ độc lập quy mô lớn nhưng không cho người dân tự do chất vấn lịch sử đang thể hiện một nghịch lý.

Nếu ngày 2 tháng 9 thật sự thuộc về dân tộc, người dân phải có quyền đặt ra những câu hỏi căn bản:

  • Ai đã trực tiếp phá bỏ bộ máy thuộc địa Pháp vào tháng 3 năm 1945?
  • Chính phủ Trần Trọng Kim và bản tuyên bố ngày 11 tháng 3 có vai trò gì?
  • Vì sao công lao của các đảng phái và những người yêu nước không cộng sản bị xóa bỏ?
  • Vì sao nhiều lực lượng từng hợp tác trong mặt trận chống thực dân sau đó lại bị loại trừ hoặc đàn áp?
  • Vì sao độc lập dân tộc lại dẫn đến một chế độ trong đó nhân dân không có quyền lựa chọn một đảng cầm quyền khác?
  • Vì sao chính quyền luôn tuyên bố bảo vệ chủ quyền nhưng lại dè dặt trước những hành động lấn áp của Tàu Cộng tại Biển Đông?

Một nền độc lập không chịu nổi những câu hỏi ấy là một nền độc lập đang bị biến thành giáo điều tuyên truyền.

Trả ngày 2 tháng 9 về cho lịch sử và dân tộc

Phủ nhận toàn bộ ý nghĩa “ giành độc lập” của ngày 2 tháng 9 mới có thể bác bỏ sự độc quyền lịch sử của Đảng Cộng sản. Ngày ấy có thể được nhìn nhận là một thủ đoạn tinh quái của đảng CSVN đã tận dụng để cướp chính quyền. Nhưng nó không phải bằng chứng rằng một mình Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản đã đánh bại Thực dân Pháp; càng không phải giấy phép cho một đảng cai trị đất nước vô thời hạn. Độc lập không phải là ân huệ do một đảng ban cho nhân dân. Độc lập là quyền vốn có của toàn dân tộc. Một Việt Nam thực sự độc lập phải có khả năng tự quyết trước mọi cường quốc, không lệ thuộc Bắc Kinh, Moskva hay bất cứ trung tâm quyền lực nào. Quan trọng hơn, nhà nước phải chịu trách nhiệm trước ý chí của nhân dân, chứ không phải nhân dân phải phục tùng một đảng duy nhất.

Vì vậy, nhân ngày 2 tháng 9, điều Việt Nam cần không phải là thêm những cuộc diễn binh, những biểu ngữ khổng lồ hay những bài diễn văn ca tụng lãnh tụ. Điều cần thiết là trả lại sự thật cho lịch sử, trả công lao cứu nước về cho toàn dân và trả quyền quyết định tương lai đất nước cho mỗi người Việt Nam.

Một quốc gia chỉ thật sự độc lập khi lãnh thổ, lãnh hải không bị ngoại bang xâm phạm, chính sách không bị ngoại bang chi phối và người dân được tự do lựa chọn chính quyền của mình.

Cho đến khi ba điều kiện ấy trở thành hiện thực, câu hỏi về ý nghĩa đích thực của hai chữ “Độc lập” trong ngày 2 tháng 9 vẫn còn nguyên giá trị.

LÝ THANH LIÊM. TBĐH PTSG

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *