ĐẢNG CS XOÁ BỎ TÊN SÀI GÒN. LỆ THUỘC SÂU ĐẬM CỘNG SẢN LIÊN XÔ

VỚI NHIỀU MƯU ĐỒ PHÁ HUỶ VĂN HOÁ , CH1NH TRỊ , TÔN GIÁO TRUYỀN THỐNG

Ngày 02 tháng 7 năm 1976, quyết định chính thức từ Quốc hội khóa VI của chính quyền mới đã xóa bỏ tên gọi Sài Gòn – thủ đô của Việt Nam Cộng hòa (VNCH) – để thay bằng tên của lãnh tụ cộng sản Hồ Chí Minh. Nhìn bề ngoài, đây có vẻ là một hành động vinh danh thông thường của bên chiến thắng. Tuy nhiên, đặt trong dòng chảy văn hóa Á Đông, truyền thống lịch sử Việt Nam và bối cảnh địa chính trị Chiến tranh Lạnh, việc đổi tên này chứa đựng những mưu đồ sâu sắc. Đó không đơn thuần là một thủ tục hành chính, mà là một chiến lược toàn diện nhằm thần thánh hóa cá nhân, cạnh tranh ảnh hưởng với tôn giáo, phá vỡ truyền thống văn hóa bản địa, và thể hiện sự rập khuôn, lệ thuộc sâu sắc vào mô hình ý thức hệ của Liên Xô. Đồng thời  chính quyền cộng sản ngay lập tức đối mặt với một “thực thể” có sức kháng cự tinh thần mạnh mẽ nhất: Các tôn giáo lớn. Tại miền Nam trước năm 1975, Phật giáo, Công giáo, Cao Đài và Hòa Hảo không chỉ là niềm tin tâm linh mà còn là những thế lực xã hội có tổ chức chặt chẽ, sở hữu hệ thống giáo dục, y tế, báo chí và có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến hàng triệu tín đồ. Đối với một thể chế toàn trị dựa trên chủ nghĩa vô thần chiến đấu (militant atheism), sự tồn tại độc lập của các tôn giáo này là một mối đe dọa trực tiếp đến quyền lực tuyệt đối của Đảng. Do đó, một chiến dịch thanh lọc, giải thể và “quốc doanh hóa” tôn giáo đã được ráo riết thực hiện..

 Mưu đồ thần thánh hóa Hồ Chí Minh và cuộc cạnh tranh giành giật niềm tin tôn giáo. (Chiến lược tạo dựng một ” GIÁO CHỦ mới” của ý thức hệ)

Trong hệ tư tưởng Marx-Lenin, tôn giáo bị xem là “thuốc phiện của nhân dân”. Khi áp đặt chế độ toàn trị vào miền Nam – nơi có nền tảng tôn giáo và tín ngưỡng vô cùng đa dạng và sâu sắc (Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo) – chính quyền CS đối mặt với một thách thức lớn về mặt tâm lý xã hội. Để giải quyết điều này, họ không chỉ dùng biện pháp hành chính để hạn chế tôn giáo, mà còn thực hiện chiến lược “thay thế tâm linh”: thần thánh hóa lãnh tụ Hồ Chí Minh để biến ông thành một biểu tượng tối cao mới. Mặc dù ông ta là lãnh tụ CSVN, tay sai CS quốc tế đã trực tiếp giết hại hang trăm ngàn dân thường.  Cụ thể qua cuộc đấu tố địa chủ và “ cải cách ruộng đất “tại miền Bắc (1953-1955) . Và chôn sống tập thể tại Huế vào dịp  tết Mậu Thân 1968.

Việc đưa tên Hồ Chí Minh cho  trung tâm kinh tế, văn hóa lớn nhất miền Nam là bước tối quan trọng để hiện thực hóa vị thế “thần thánh” này. Tên của ông không còn là tên của một con người lịch sử lên án , mà trở thành một thực thể địa lý, một sự hiện diện bắt buộc trong ngôn ngữ giao tiếp, giấy tờ hành chính và đời sống hằng ngày của mọi người dân.

-cưỡng chế trong ngôn từ: Người dân miền Nam, bất kể niềm tin tôn giáo nào, từ thời điểm đó buộc phải viết và nói từ “Hồ Chí Minh” khi khai báo lý lịch, làm giấy tờ, hoặc giao dịch thương mại. Đây là một hình thức cưỡng bách tâm lý, buộc tâm thức người dân phải quen thuộc và chấp nhận sự hiện diện của lãnh tụ như một thế lực bao trùm lên cuộc sống của họ. Kể cả trong những văn bản thuộc Tôn Giáo

-Hệ thống hóa “nhà thờ” ý thức hệ: Song song với việc đổi tên thành phố, các tượng đài, nhà lưu niệm, và “đền thờ” Hồ Chí Minh được xây dựng hàng loạt khắp các cơ quan, trường học tại miền Nam. Điều này tạo ra một hệ thống nghi lễ chính trị tương đương với các nghi lễ tôn giáo, nơi các buổi lễ chào cờ, báo công đóng vai trò như các buổi thánh lễ nhằm hướng niềm tin của quần chúng về một mối duy nhất: Đảng và Lãnh tụ.

Triệt hạ Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Từ tự trị đến áp đặt “Quốc doanh”

-Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) từng là một tổ chức có uy tín quốc tế lớn, độc lập với mọi chính quyền. Sau năm 1975, tổ chức này lập tức trở thành mục tiêu triệt hạ hàng đầu vì không chấp nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

-Tịch thu tài sản và cơ sở giáo dục: Chính quyền mới ra lệnh quốc hữu hóa toàn bộ hệ thống trường học, viện đại học (như Viện Đại học Vạn Hạnh), các nhà xuất bản, cô nhi viện và bệnh viện do Giáo hội quản lý. Bản thân các cơ sở này bị tước đoạt quyền tự chủ tài chính và văn hóa.

-Bắt bớ và cô lập hàng giáo phẩm: Các nhà lãnh đạo tinh thần kiên trung của GHPGVNTN như Hòa thượng Thích Huyền Quang, Hòa thượng Thích Quảng Độ đều bị bắt giam, quản thúc tại các vùng hẻo lánh trong nhiều thập kỷ. Nhiều tăng ni, Phật tử phản kháng đã bị đẩy vào các trại tù “cải tạo”.

-Thành lập Giáo hội “Quốc doanh” (1981): Để xóa sổ hoàn toàn GHPGVNTN mà không làm dấy lên sự phẫn nộ của dư luận quốc tế, năm 1981, chính quyền thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (thuộc Mặt trận Tổ quốc). Đây là một tổ chức bù nhìn do Nhà nước quản lý nhằm mục đích biến đạo Phật thành một công cụ tuyên truyền, buộc các nhà sư phải học tập nghị quyết Đảng và lồng ghép tư tưởng chính trị vào giáo lý. GHPGVNTN bị tuyên bố là bất hợp pháp.

Bao vây, cô lập và vô hiệu hóa Giáo hội Công giáo

– Giáo hội Công giáo miền Nam với tinh thần chống cộng triệt để và hệ thống tổ chức chặt chẽ kết nối trực tiếp với Vatican là đối tượng bị chính quyền mới dè chừng nhất. Chiến lược áp dụng đối với Công giáo là cô lập ngoại giao, cắt đứt nguồn lực và kiểm soát nhân sự.

-Cắt đứt liên lạc với Vatican: Chính quyền trục xuất Khâm sứ Tòa Thánh Henry Lamartre (Đại diện Vatican tại Sài Gòn) ngay trong năm 1975, đóng cửa các chủng viện và cấm ngặt việc phong chức linh mục, giám mục nếu không có sự phê duyệt của Ban Tôn giáo Chính phủ. Buộc đổi tên Tổng Giáo Phận từ Sài gòn thành ra HCM

-Đánh sập hệ thống truyền thông và giáo dục xã hội: Hàng trăm trường tư thục Công giáo danh tiếng (như Taberd, Lasalle, Regina Pacis), các bệnh viện (như Bệnh viện Saint Paul), các tòa soạn báo Công giáo đều bị tịch thu. Tài sản của Giáo hội bị thu hẹp tối đa để các xứ đạo không còn nguồn lực tự chủ. Như Toà soạn báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và tất cả những nhà in, xuất bản của GHCG

-Sách nhiễu các vị chức sắc: Điển hình là trường hợp của Tổng giám mục Phó Nguyễn Văn Thuận (cháu ruột của Tổng thống Ngô Đình Diệm). Chỉ vài tháng sau ngày 30/4/1975, ông bị bắt và bị giam giữ không qua xét xử trong các trại cải tạo suốt 13 năm, trong đó có 9 năm biệt giam. Chính quyền cố tình tạo ra một thế hệ linh mục “tiến bộ” thông qua Ủy ban Đoàn kết Công giáo để phân hóa nội bộ Giáo hội, nhưng âm mưu này phần lớn thất bại trước sự kiên định của giáo dân. Hàng trăm LM bị bõ tù và giết chết hoặc chết rũ tù

Thay thế Tôn Giáo độc lập chân truyền và giáo lý  đối với Đạo Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo

-Đối với Phật giáo Hòa Hảo: Khác với các tôn giáo khác, Hòa Hảo bị giải thể toàn bộ hệ thống trị sự từ trung ương đến địa phương ngay sau năm 1975. Các thánh địa, tổ đình bị kiểm soát nghiêm ngặt. Việc tổ chức các ngày đại lễ (như ngày khai đạo, ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ vắng mặt) bị cấm đoán hoặc hạn chế ngặt nghèo. Hàng ngàn trị sự viên và tín đồ thuần thành bị bắt đi tù vì bị quy tội là “ngụy quân, ngụy quyền”. Phải mất hơn 20 năm sau, chính quyền mới cho phép một Ban Trị sự mới (do Nhà nước chỉ định) hoạt động trở lại dưới sự kiểm soát.

– Đối với Đạo Cao Đài: Tòa thánh Tây Ninh bị quân đội và công an bao vây, tịch thu các cơ sở kinh tế, đồn điền trực thuộc. Năm 1979, chính quyền ban hành một bản “Bản án Cao Đài” khét tiếng, buộc tội các chức sắc lãnh đạo là “phản cách mạng”. Hội thánh Cao Đài bị giải thể, thay bằng một Hội đồng Chưởng quản do cơ quan an ninh dựng lên. Các nghi thức cúng tế, sắc phục và hệ thống phẩm cấp của đạo bị thay đổi thô bạo để phục vụ mục đích chính trị.

Vu cáo các Hội thánh Tin Lành là tay sai Mỹ các Mục Sư làm việc cho CIA. Bắt bớ giết chết họ trong tù và thâm nhập , tha hoá các Hội Thánh. Thu phục và ép buộc tất cả phải gia nhập vào hai tổ chức Tổng hội Tin Lành Miền Bắc và Miển Nam dưới sự kiểm soát chặt chẽ từ Mặt Trận Tổ Quốc ( thuộc Đảng CS). Ban tôn giáo Chính Phủ (thuộc Nhà nước) biến thành công cụ cùa CSVN. Tiếp tục đàn áp các HT độc lập (Tư Gia).

Bản chất của chính sách “Chuyển hóa tâm linh” hậu 1975. Nhìn một cách tổng thể, các biện pháp chèn ép tôn giáo của chính quyền cộng sản tại miền Nam sau khi xóa tên Sài Gòn tuân theo ba nguyên tắc cốt lõi:

-Độc quyền chân lý: Chế độ toàn trị không chấp nhận bất kỳ một hệ thống tư tưởng nào khác cạnh tranh với chủ nghĩa Marx-Lenin. Việc thần thánh hóa cá nhân Hồ Chí Minh (như đã phân tích ở phần trước) là nhằm xây dựng một “tôn giáo chính trị” để thay thế niềm tin vào Thượng Đế, Phật hay Đức thầy.

-Kinh tế hóa để triệt buộc phụ thuộc: Bằng cách tịch thu đất đai, cơ sở từ thiện, trường học của các tôn giáo, chính quyền tước đi “quyền lực mềm” của họ. Tôn giáo bị dồn vào bốn bức tường của nhà thờ, chùa chiền, không được phép tham gia vào các hoạt động xã hội, giáo dục hay y tế.

– An ninh hóa hoạt động tâm linh: Mọi cuộc tập hợp trên 5 người vì mục đích tôn giáo đều phải xin phép. Các báo cáo của mật vụ, công an nằm vùng dày đặc trong các cơ sở thờ tự. Người dân đi lễ nhà thờ hay đi chùa đều bị theo dõi và có thể bị ảnh hưởng trực tiếp đến lý lịch, cơ hội thăng tiến hoặc học tập của con cái.

Phá vỡ truyền thống Á Đông và tập quán văn hóa Việt Nam

Xét về mặt văn hóa, việc lấy tên một cá nhân đặt cho một thành phố lớn là hành động hoàn toàn xa lạ, thậm chí đi ngược lại truyền thống lâu đời của Việt Nam và các quốc gia Đông Á. Trong suốt hàng ngàn năm lịch sử phong kiến, từ thời Đinh, Lê, Lý, Trần đến nhà Nguyễn, văn hóa Việt Nam duy trì nghiêm ngặt tục “kỵ húy” (tránh dùng tên riêng của vua chúa, vĩ nhân trong đời sống thường nhật để tỏ lòng tôn kính).

Các địa danh của Việt Nam luôn được đặt theo đặc điểm tự nhiên, nguồn gốc lịch sử, hoặc những từ Hán-Việt mang ý nghĩa tốt lành, an bình (như Thăng Long, Phú Xuân, Gia Định, Sài Gòn, Đà Nẵng). Chưa bao giờ có tiền lệ lấy tên của các vị anh hùng dân tộc vĩ đại như Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, hay Quang Trung để thay thế cho tên của một đô thị, một kinh thành. Việc đặt tên địa danh bằng tên người là một sự đứt gãy thô bạo đối với dòng chảy văn hóa bản địa.

Dẫn chứng đối chiếu lịch sử. Thời phong kiến: Sau khi quét sạch quân Thanh, hoàng đế Quang Trung (Nguyễn Huệ) đóng đô ở Nghệ An và đặt tên là Phượng Hoàng Trung Đô, chứ không gọi là “Thành phố Nguyễn Huệ”. Nhà Nguyễn khi thống nhất đất nước đã gọi kinh đô là Phu Xuân hay Huế, đặt tên vùng đất phía Nam là Gia Định, chứ không lấy tên vua Gia Long để đặt cho đất Nam Bộ.. Bản chất của sự thay đổi: Việc chính quyền cộng sản bất chấp truyền thống này cho thấy họ đặt ý thức hệ chính trị lên trên các giá trị văn hóa cốt lõi của dân tộc. Họ sẵn sàng xóa bỏ tập quán ngàn năm để phục vụ cho mục đích tuyên truyền ngắn hạn, biến một biểu tượng địa lý mang tính lịch sử-văn hóa (Sài Gòn) thành một công cụ khẳng định quyền lực chính trị.

Sự rập khuôn, lệ thuộc vào ngoại bang và tâm lý “chư hầu ý thức hệ”(Rập khuôn mô hình Xô Viết (Sovietization)

Việc vội vã đổi tên Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh là minh chứng rõ nét nhất cho sự rập khuôn mù quáng theo mô hình của Liên Xô. Trong lịch sử phong trào cộng sản quốc tế, Liên Xô là quốc gia tiên phong và triệt để nhất trong việc xóa bỏ địa danh lịch sử để thay bằng tên các lãnh tụ Bolshevism nhằm mục đích độc chiếm ký ức lịch sử của người dân. Chính quyền Hà Nội khi vào miền Nam đã sao chép nguyên xi công thức này để áp dụng vào Việt Nam, thể hiện một tư duy lệ thuộc sâu sắc vào Cộng sản quốc tế Liên Xô ( cho đến nay dù LX đã triệt tiêu) về mặt tư tưởng và văn hóa hành chính.

-Hiện tượng tại Liên Xô . Thành phố lịch sử St. Petersburg (có từ thời Sa hoàng) bị đổi tên thành Leningrad năm 1924 để vinh danh Vladimir Lenin. Thành phố Tsaritsyn bị đổi tên thành Stalingrad năm 1925 để vinh danh Joseph Stalin. Các thành phố khác như Nizhny Novgorod thành Gorky, Tver thành KalininHệ quả: Sau khi chế độ cộng sản sụp đổ vào năm 1991, người dân Nga và các nước thuộc Liên Xô cũ đã lập tức tổ chức trưng cầu dân ý để trả lại tên gốc cho các thành phố này (St. Petersburg và Volgograd ngày nay), minh chứng rằng việc đặt tên lãnh tụ chỉ là một sự cưỡng ép mang tính giai đoạn.

-Sự khác biệt mang tính độc lập của Trung Cộng: Ngay cả Đảng Cộng sản Trung Quốc (Trung Cộng), dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông, khi chiếm được toàn bộ đại lục vào năm 1949 cũng không bao giờ đổi tên thủ đô Bắc Kinh (Beijing) thành “Thành phố Mao Trạch Đông”. Bản thân Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo Trung Quốc thời đó, dù sùng bái cá nhân rất cao, vẫn giữ tư duy văn hóa Đông Á và muốn chứng tỏ một vị thế độc lập, ngang hàng với “đàn anh” Liên Xô. Họ hiểu rằng việc đổi tên thủ đô theo kiểu Nga là một sự rập khuôn hạ thấp thể diện quốc gia và không phù hợp với tâm thức của người dân da vàng. Việc phong trào cộng sản Việt Nam rập khuôn theo Liên Xô, trong khi Trung Quốc không làm, cho thấy một sự thiếu tự tin về mặt văn hóa và sự lệ thuộc nặng nề vào các cố vấn cũng như học thuyết ngoại lai của Điện Kremlin thời bấy giờ.

Xóa bỏ căn tính và diệt trừ ký ức lịch sử văn hoá của miền Nam Việt Nam

Tên gọi “Sài Gòn” không chỉ là hai tiếng địa danh; nó đại diện cho một căn tính (identity) riêng biệt của người dân miền Nam. Đó là sự phóng khoáng, tự do, hội nhập, là nơi giao thoa của kinh tế thị trường phương Tây và văn hóa đặc biệt  Sài Gòn từng là “Hòn ngọc Viễn Đông”, một trung tâm đô thị phát triển vượt trội trong khu vực.

Mưu đồ của việc xóa tên Sài Gòn ngay sau khi kiểm soát là để cắt đứt sợi dây liên hệ tinh thần của người dân với quá khứ  của họ. Khi một cộng đồng bị tước đoạt đi cái tên của nơi mình sinh sống, họ cũng bị tổn thương về mặt căn tính. Chính quyền mới muốn biến người dân Sài Gòn cũ thành những “tờ giấy trắng” để dễ dàng nhào nặn, giáo dục họ trở thành những con người mới theo khuôn mẫu xã hội chủ nghĩa.

-Hạ cấp quy chế lịch sử: Từ một thủ đô của một quốc gia độc lập (VNCH), Sài Gòn bị xoá bỏ và biến thành một phường ngày nay

– Xoá bỏ hệ thống tên đường: Cùng với việc đổi tên thành phố, hàng loạt tên đường mang tên các vị vua nhà Nguyễn (Gia Long, Minh Mạng, Lê Văn Duyệt) hay các trí thức, địa danh cũ của miền Nam đều bị thay thế bằng tên của các đảng viên cộng sản miền Bắc hoặc các sự kiện của phe chiến thắng. Đây là một chiến dịch “thanh lọc ký ức đô thị” toàn diện, bắt đầu từ cái tên lớn nhất: Sài Gòn.

Nhìn lại lịch sử, việc vội vàng xóa tên Sài Gòn để thay bằng tên Hồ Chí Minh vào năm 1976 là một quyết định mang tính áp đặt ý thức hệ bạo liệt. Quyết định này đã phơi bày những mưu đồ cốt lõi: cố gắng thần thánh hóa lãnh tụ để triệt hạ tầm ảnh hưởng của tôn giáo; tuy nhiên Chiến dịch chèn ép các phong trào tôn giáo miền Nam sau năm 1975 là một phần không thể tách rời trong mưu đồ “nhào nặn lại” căn tính của vùng đất này. Cùng với việc xóa bỏ cái tên Sài Gòn, chính quyền cộng sản muốn nhổ tận gốc những trụ cột tinh thần đã nuôi dưỡng tâm hồn người dân miền Nam suốt hàng trăm năm. Tuy nhiên, lịch sử đã chứng minh điều ngược lại: Sự đàn áp thô bạo bằng hành chính và bạo lực chỉ có thể khuất phục được các vỏ bọc tổ chức bên ngoài, chứ không thể dập tắt được niềm tin tâm linh sâu thẳm. Sự tồn tại kiên cường, bất khuất của các tôn giáo độc lập tại miền Nam cho đến ngày nay chính là câu trả lời đanh thép nhất trước tham vọng độc tài tư tưởng của chế độ. Cũng như  chà đạp lên truyền thống văn hóa, tập quán đặt tên địa danh ngàn năm của dân tộc; và cay đắng hơn cả, là biểu hiện của một tư duy chư hầu, rập khuôn mù quáng theo mô hình Xô Viết mà ngay cả người láng giềng Trung Quốc cũng từ chối thực hiện.

Trải qua nửa thế kỷ, dù trên các văn bản hành chính cái tên mới vẫn tồn tại, nhưng trong tâm thức của người dân trong và ngoài nước, hai tiếng “Sài Gòn” vẫn vẹn nguyên giá trị. Sự tồn tại song song này là minh chứng cho thấy: quyền lực chính trị có thể cướp di tên  của một Tổng Giáo Phận , một  thành phố bằng bạo lực và văn bản, nhưng không bao giờ có thể xóa nhòa được linh hồn và căn tính lịch sử của một vùng đất đã ăn sâu vào lòng người.

Thu Ly Hương 05/15/2026

 

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *