ĐẢNG CỘNG SẢN ĐỐI XỬ VỚI GIÁO HỘI CÔNG GIÁO TẠI VIỆT NAM
THẾ NÀO VÀ TẠI SAO TRONG MỘT HAI THẬP NIÊN QUA
Linh Mục Phaolô Trần Xuân Tâm 1
Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) 2 đối xử với các tôn giáo cách khác nhau, tùy theo bản
tính và điều kiện của mỗi tôn giáo mà đảng đánh giá “có lợi” hay “bất lợi” đối với quyền lực
chính trị và lợi ích kinh tế của đảng. Ngay cả đối với cùng một tôn giáo như Giáo Hội Công Giáo
(GHCG), cách thức đảng đối xử cũng thay đổi tùy theo hoàn cảnh, địa phương, thời gian, và các
nhân sự liên hệ đôi bên. Nhưng mọi cách đảng đối xử với tôn giáo tại VN xưa cũng như nay, dù
là tôn giáo nào, đều có cùng một mẫu số chung, đều phục vụ cho cùng một mục đích chung đó là
quyền lực chính trị và lợi ích kinh tế của ĐCS. 3 Dùng cách thức nào thì dùng, miễn là tối thiểu
phải loại trừ được ngay cả những gì chỉ mới có thể gây bất lợi cho quyền lực bất chính và lợi ích
phi pháp của đảng. Cái mẫu số chung hay mục đích chung đó thật ra đã được ĐCS cho thấy cách
gián tiếp nơi nội dung của điều 4 hiến pháp mà đảng bịa ra và áp đặt trên dân tộc VN. 4
1 Bài nhận định này được hình thành từ một số ý tưởng sơ khởi, phát thảo mà tôi chia sẻ vắn gọn (15 phút) với các
anh chị em hoạt động cho tự do tôn giáo tại VN trong buổi hội thảo tại thủ đô Washington ngày 30 tháng 1 năm
2024.
2 Trong cả tiêu đề lẫn suốt bài nhận định này, thay vì những nhóm từ như “nhà nước cộng sản VN”, “chính quyền
cộng sản VN”, “chính phủ VN”, tôi thường dùng “đảng cộng sản VN”, vì tôi muốn gọi thực tại theo tên thích hợp
với nó nhất, vì cả trong lý thuyết lẫn thực tế, cơ chế chính trị, xã hội, và kinh tế ở VN nói cho cùng cũng vẫn là cơ
chế độc đảng toàn trị (xem chú thích số 4 ở dưới).
3 Sau khi thành công “giải phóng” nhân dân khỏi “các giai cấp phong kiến, tư bản bóc lột”, ngay từ những ngày đầu
nắm quyền cai trị, ĐCSVN tiếp tục làm cho nhân dân lầm than, đói khổ triền miên, nhưng đảng vẫn luôn sống sung
sướng. Các cán bộ đảng, những “đầy tớ nhân dân”, “ăn trên ngồi trốc”, có chế độ ưu đãi với mức sống cao hơn nhân
dân (dù có tiếng là “làm chủ”) “một trời, một vực”. Dầu vậy chỉ từ khi được bãi bỏ cấm vận, được giao dịch, buôn
bán với các nước “tư bản” Âu Mỹ, đảng mới có trong tay cả một nguồn vô tận để làm giàu, đương nhiên bằng tham
nhũng, hối lộ. Có như vậy, đảng mới thật sự trở nên một tập đoàn giàu có theo tiêu chuẩn của Âu Mỹ mà thành phần
đều là những triệu phú, tỉ phú tính bằng dollar Mỹ (đương nhiên tập thể các đảng viên là bộ phận giàu nhất so với
mọi người dân VN trong và ngoài nước). Thật không có gì đúng với thực tế cho bằng cái tên mỉa mai mà dân gian
đặt cho đảng: “giai cấp tư bản đỏ”.
4 Điều 4 Hiến pháp năm 2013: “1. Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là
đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân,
nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Marx – Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng,
là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ
Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình. 3. Các
tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Đọc qua người ta có thể nghĩ rằng điều 4 hiến pháp năm 2013 với khoản 2 và 3 của nó có phần hạn chế quyền lực
của đảng so với các bản hiến pháp trước đây. Nhưng nghĩ vậy chỉ là mơ tưởng (wishful thinking), khoản 2 và 3
không có ý nghĩa khách quan nào khác hơn là một thứ ngụy biện (sophistry), chỉ giả vờ mà không thực sự (quả thật
không thể) hạn chế chút nào quyền lực độc tài toàn trị của đảng như được khoản 1 khẳng định. Đọc kỹ một chút
cũng đủ thấy khẳng định của khoản 1: “ĐCSVN… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, tự nó vô hiệu hóa
khoản 2 và 3, hay tối thiểu làm cho chúng bất khả thi. Thật vậy, nếu đảng vi phạm khoản 2 và khoản 3 của hiến pháp
– trong thực tế sự vi hiến này của đảng là chuyện “thường ngày ở chợ”, thì cơ quan, tổ chức nào của nhà nước hay
trong xã hội có quyền xét xử và trừng phạt đảng đây, khi mà đảng lãnh đạo tất cả, không có tam quyền phân lập mà
chỉ có độc quyền của đảng, cả trong thực tế lẫn lý thuyết.
Chính thật ra nhân dân VN đã sớm biết mánh khóe ngụy biện, che đậy kiểu này cho sự độc tài toàn trị của đảng,
điển hình nhất là qua câu khẩu hiệu mị dân “khét tiếng” mà đảng vẫn cứ rêu rao từ xưa đến nay: “đảng lãnh đạo,
nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Một người có chút ăn học lần đầu tiên nghe qua cũng thấy ý nghĩa của cái
2
Khẳng định mở đầu trên đây về cái mẫu số, mục đích chung của mọi cách thức ĐCS đối xử
với tôn giáo phải được xem là tiền đề, là nền tảng cho mọi nhận xét, phân tích cụ thể về tự do tôn
giáo tại VN trong một hai thập niên qua. Bài nhận định này của tôi về cách thức, đường lối đảng
đối xử với GHCG, tùy theo các loại hoạt động khác nhau, có thể sai sót về một số nhận xét, phân
tích cụ thể, nhưng chắc chắn cái tiền đề, nền tảng đang nói không thể sai, không hề thay đổi. Nói
cách khác, đối với câu hỏi “Đảng đối xử với GHCG tại VN như thế nào”, bài nhận định của tôi
không thể đưa ra được câu trả lời đầy đủ và chính xác chỉ có bộ phận chuyên ngành an ninh/công
an tôn giáo trong guồng máy cai trị của đảng mới có. Tôi chỉ trình bày suy nghĩ, nhận xét của
mình dựa trên những thông tin, dữ kiện hoặc đến từ nguồn riêng hoặc từ truyền thông công cộng.
Nhưng đối với câu hỏi “Tại sao đảng đối xử với Giáo Hội như thế”, câu trả lời đúng thật ra
không khó tìm và cũng không cần có đầy đủ thông tin, dữ kiện về lịch sử đảng đối xử Giáo Hội
như thế nào từ xưa đến nay. Những ai có hiểu biết thích hợp đảng cộng sản là gì và muốn làm gì
khi nắm quyền cai trị một đất nước, dễ nghĩ ra, nhận ra được cái lý do đích thật, tức động lực sau
cùng, mục đích trên hết của mọi cách thức đảng đối xử với một tôn giáo. Các thông tin, dữ liệu
chỉ củng cố, xác minh cái lý do đó thôi.
*******
I. NHỮNG LOẠI HOẠT ĐỘNG CỦA GHCG BỊ ĐCS CẤM CẢN TUYỆT ĐỐI
HAY HẠN CHẾ TỐI ĐA – LÝ DO CỦA SỰ CẤM CẢN, HẠN CHẾ
Khi thấy trong một hai thập niên qua có nhiều hoạt động tôn giáo được ĐCS cởi mở, dễ dãi
để cho GHCG tại VN thực hành, và trong một số trường hợp như thể không còn cấm cản, hạn
chế nào, nhiều người bị cám dỗ nghĩ rằng tự do tôn giáo không còn là vấn đề đối với Giáo Hội, ít
nữa trong căn bản. Nhưng thật ra, nếu đừng dựa trên những cái nổi bật bên ngoài, mà nhìn cách
kỹ lưỡng và toàn diện, người ta không thể phủ nhận rằng ít nữa có ba loại hoạt động tôn giáo sau
đây, thuộc về chính bản tính và sứ mạng của Giáo Hội, nhưng vẫn bị đảng cấm cản tuyệt đối hay
hạn chế tối đa. Sự kiện cấm cản, hạn chế này chứng minh rõ ràng là tự do tôn giáo vẫn còn là vấn
đề nghiêm trọng ở VN, như trong trường hợp GHCG.
A. Lên Tiếng Cho Sự Thật – Tiếng Nói Ngôn Sứ của Giáo Hội trong Xã Hội
Một hoạt động rất quan trọng của GHCG tại VN đó là lên tiếng nói ngôn sứ loan truyền
và bảo vệ những sự thật về phẩm giá con người và công lý xã hội trước những tệ nạn, suy đồi
như phá thai, hút xách, cờ bạc, mại dâm, làm tiền và gian dối trong giáo dục, dối trá, xuyên tạc
trong truyền thông vv… và trước những sai trái, bất công như hạn chế hay cấm cản hoạt động tôn
giáo, bóc lột sức lao động, tham nhũng hối lộ, cướp đất đai của cá nhân và tổ chức tôn giáo, buôn
bán phụ nữ ra nước ngoài, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên chỉ vì lợi ích của thành phần
lãnh đạo đảng mà bất chấp mọi hậu quả đối với đất nước, nhất là gây độc hại về sức khỏe cho
môi trường, điều kiện sống của người dân vv… Đảng tuyệt đối không để cho Giáo Hội có tự do
khẩu hiệu này lấn cấn, không mạch lạc sao đó, cho đến khi được nhân dân mách cho biết chìa khóa giải mã ý nghĩa
của nó. Đó là chỉ cần di chuyển hai dấu phẩy trong câu khẩu hiệu đến đúng chỗ như sau, thì ý nghĩa thật sự của nó
lập tức hiện ra: “đảng lãnh đạo nhà nước, quản lý nhân dân, (nên đảng) làm chủ”.
3
đối với hoạt động ngôn sứ như thế trong xã hội. Lý do: làm vậy chính là để cho Giáo Hội phê
phán, phản đối đảng cách này hay cách khác, 5 vì trong thực tế đảng mới là nguyên nhân chính
yếu về mặt chính trị, xã hội, và kinh tế của những tệ nạn, bất công này. Do đó, tiếng nói ngôn sứ
trung thực của Giáo Hội trước những tệ nạn, bất công này chắc chắn trực tiếp gây bất lợi cho
quyền lực chính trị và lợi ích kinh tế của đảng.
1. Những Cách Thức, Thủ Đoạn Cấm Cản Tiếng Nói Ngôn Sứ
Để ngăn cản hoạt động ngôn sứ trong xã hội của các giám mục, linh mục, tu sĩ, một cách
thông dụng và rất hiệu nghiệm đó là ĐCS dùng những cởi mở, dễ dãi đối với các hoạt động khác
của Giáo Hội như miếng mồi ngon dụ dỗ hay như điều kiện trao đổi tiên quyết. Cách này sẽ
được bàn đến trong phần hai, 6 ở đây tôi muốn chỉ ra một cách khác đảng cũng thường làm song
song với cách trước và bổ sung cho nhau: đó là qua hệ thống an ninh và tình báo, đảng giám sát,
ngăn chặn ảnh hưởng, rồi khủng bố, bách hại những tín hữu Công Giáo nào có lập trường ngôn
sứ, dám lên tiếng công khai phê phán, phản đối đảng về những tệ nạn, bất công nói trên. Cách
thức như vậy đương nhiên bao gồm nhiều thủ đoạn khác nhau, chẳng hạn: 1. Sách nhiểu, quấy
phá, cấm cản nhiều sinh hoạt quan trọng của nạn nhân. 7 2. Tạo ra những thông tin sai sự thật,
nhưng lại có sức thuyết phục (đối với những ai đảng muốn họ tin), nhằm hại uy tín của nạn nhân.
3. Tạo ra hay sắp xếp, điều khiển những tình huống, hoàn cảnh và nhân sự (đặc biệt là cài đặt các
giáo gian) theo hướng phục vụ cho việc làm hại uy tín nạn nhân. 4. Trả thù trên người thân, bạn
bè của nạn nhân dưới những hình thức khác nhau. 5. Giam giữ và đưa ra tòa kết án. 6. Hành
hung và sát hại vv…
Ngoại trừ thủ đoạn số 2, phạm vi bài nhận định này không bàn thêm về các thủ đoạn khác,
mà chỉ lược qua dưới đây vài trường hợp đảng sử dụng chúng.
Về thủ đoạn số 1: Đặc biệt bắt đầu từ vụ giáo xứ Thái Hà năm 2008, Tỉnh Dòng Chúa Cứu
Thế VN (DCCT), nhất là qua Tu Viện Mẹ (đường Kỳ Đồng, Sài Gòn), đã trở nên tiếng nói ngôn
sứ công khai và thường xuyên phê phán, phản đối đảng về những sai trái, bất công trong xã hội
mà đảng là thủ phạm chính. Tiếng nói ngôn sứ của nhiều tu sĩ thuộc ban lãnh đạo (cha giám tỉnh
là Vincent Phạm Trung Thành) và một số tu sĩ có uy tín trong Dòng (như cha Vũ Khởi Phụng) đã
can đảm, mạnh mẽ đến nỗi trở nên nguồn khích lệ cho nhiều nhân vật lên tiếng bênh vực, bảo vệ
nhân quyền ở VN, dù họ vốn không phải là tín hữu Công Giáo. Trước tình trạng quá bất lợi như
thế cho quyền lực độc tài toàn trị, đảng đã khai thác tối đa thủ đoạn số 1, dĩ nhiên cũng kết hợp
nó với một số thủ đoạn khác (nhất là thủ đoạn số 2 8 ), để nếu không dập tắt được thì phải làm yếu
đi tiếng nói ngôn sứ của tập thể DCCT. Đảng không ngừng trắng trợn, hung hiểm, cấm cản và
phá hoại nhiều sinh hoạt của các tu sĩ và cô lập hóa họ khỏi mọi thành phần, tổ chức khác trong
——————————————————————————————————————————-
5 Dù Giáo Hội có nói năng khéo léo đến đâu, miễn sao vẫn muốn là một tiếng nói ngôn sứ chân chính, đúng nghĩa,
thì Giáo Hội không thể tránh phê phán, phản đối đảng.
6 Xem phần II ở dưới: “Nhiều Hoạt Động của GHCG được ĐCS cởi mở, dễ dãi – Lý Do về Cả Hai Phía”.
7 Vì tôi từng lên tiếng bảo vệ tự do tôn giáo từ cuối năm 2000, tôi đã bị đảng ngăn cản không cho nhập cảnh VN vào
năm 2010, khi tôi về thăm linh mục nghĩa phụ, cũng như người thân, bạn bè ở VN. Và mới năm ngoái 2023, đảng
cũng đã làm như vậy đối với cha Nguyễn Hùng Cường, dòng Maryknoll, vì ngài cũng đã từng giúp đỡ và bảo vệ
những phụ nữ VN bị đảng buôn bán qua Đài Loan. Những linh mục ở hải ngoại như chúng tôi, có quốc tịch Mỹ, mà
đảng cũng phải trả thù cách nào đó cho bằng được để ngăn cản chúng tôi lên tiếng, thì phương chi là những tín hữu
Công Giáo lên tiếng nói hay có lập trường ngôn sứ ở trong nước.
8 Xem ở dưới: mục 2b của phần I này về “hai kiểu ít thông dụng của nội dung thông tin sai sự thật”.
4
GHCG tại VN: ví dụ như làm cho nhiều giám mục từ chối không phong chức linh mục cho các
tu sĩ DCCT, áp lực cho các dòng khác không liên lạc, làm việc với các tu sĩ DCCT, ngay cả từ
chối không cho mướn cơ sở để tĩnh tâm vv… Đảng công khai cho các tu sĩ DCCT thấy rõ những
cản trở, phá hoại, sách nhiễu như thế sẽ không giảm mà tăng lên bao lâu tập thể Dòng vẫn còn
giữ vững lập trường và tiếng nói ngôn sứ. Rốt cục, vào tháng 11 năm 2014, nhiều tu sĩ không
chịu nỗi áp lực của đảng, đã bầu ban lãnh đạo mới, 9 gồm những tu sĩ không quá tha thiết với sứ
mạng lên tiếng nói ngôn sứ trong xã hội và xem ra nghiêng về lập trường “đối thoại chứ không
đối đầu” với đảng.
Về thủ đoạn số 6: Đối với giáo dân, đảng không ngần ngại trực tiếp và công khai hành hung,
sát hại. Điển hình là đảng đã từng xử sự như vậy đối với giáo dân giáo xứ Cồn Dầu, Đà Nẵng
vào năm 2010, khi họ phản đối đảng cướp đất, ép họ bỏ làng, bỏ ruộng: trong vụ đàn áp dã man
đó, một giáo dân là anh Tôma Nguyễn Thành Năm đã bị công an của đảng đánh đập đến tử
thương. 10 Đối với linh mục, tu sĩ, thì đảng gián tiếp và kín đáo: hoặc hành hung, sát hạt theo kiểu
“ném đá giấu tay” như đối với cái chết của cha Antôn Phạm Đình Phùng, thư ký Tòa Giám Mục
Vinh (2012), và cái chết của cha Antôn Nguyễn Huyền Đức, bề trên tu viện dòng Biển Đức
Thiên An, Huế (2022), 11 hoặc hành hung, mưu sát theo kiểu “mượn dao giết người” như đối với
cái chết của cha Giuse Trần Ngọc Thanh, tu sĩ dòng Đa Minh, Kontum (2022).
2. Thủ Đoạn Tạo Ra Những Thông Tin Sai Sự Thật về Những Tín Hữu Công Giáo Nào Có
Lập Trường Ngôn Sứ, Dám Lên Tiếng Nói Ngôn Sứ
Vì tính cách phức tạp và lừa dối rất hiệu quả của nó, tôi muốn bàn sâu rộng về thủ đoạn số
2, tức việc ĐCS tạo ra những thông tin sai sự thật để làm hại uy tín của một giám mục, linh mục,
hay tu sĩ dám lên tiếng nói ngôn sứ, hay ít nữa có biểu hiện của lập trường ngôn sứ. Mục tiêu sau
cùng mà thủ đoạn này nhắm đến đương nhiên là vô hiệu hóa tính cách ngôn sứ của một giám
mục, linh mục, tu sĩ, bằng cách làm sao cho bề trên và đồng đạo nghi ngờ, không tín nhiệm và
tôn trọng ngài, thậm chí ác cảm ra mặt và chống lại việc làm ngôn sứ của ngài. Vị giám mục,
linh mục, tu sĩ ngôn sứ bị xa tránh, cô lập hóa, chẳng những không được đề cử vào những chức
vụ, quyền hành lãnh đạo cao hơn, mà còn bị giảm bớt hay lấy đi chức vụ, quyền hành lãnh đạo
đang có, và như thế đảng có thể giảm bớt hay triệt tiêu ảnh hưởng ngôn sứ của ngài đối với anh
chị em mình trong Giáo Hội.
a. Hai kiểu thông thường của nội dung thông tin sai sự thật
Nội dung của thông tin sai sự thật mà thủ đoạn số 2 tạo ra thông thường thuộc một trong hai
kiểu sau. Một là vu khống vị giáo sĩ, tu sĩ đó lỗi phạm sự độc thân khiết tịnh. Hai là bịa đặt, dựng
đứng rằng vị đó là tay sai của ĐCS, làm “antenna” cho đảng, giả vờ phê phán, phản đối đảng, để
lôi kéo người khác cũng bắt chước làm theo, nhờ vậy giúp đảng biết được những ai thuộc thành
phần chống đối mà bắt giữ họ.
——————————————————————————————————————-
9 Tức giám tỉnh mới là cha Giuse Nguyễn Ngọc Bích cùng với ban cố vấn mới.
10 Anh Huỳnh Ngọc Trường, một giáo dân giáo xứ Cồn Dầu, là nhân chứng trực tiếp của vụ đàn áp này. Dĩ nhiên,
khi dấn thân làm nhân chứng, bản thân anh và gia đình anh cũng bị đảng đe dọa, sách nhiểu, quấy phá.
11 Trường hợp cái chết của cha Phùng và nhất là cái chết của cha Đức rất đáng nghi là đảng sai người đầu độc.
5
(1) Kiểu thông thường thứ nhất
Đối với nội dung vu khống kiểu thứ nhất, tức vu khống một giáo sĩ hay tu sĩ (lên tiếng hay
có lập trường ngôn sứ) lỗi phạm sự độc thân khiết tịnh, ĐCS thường chẳng đưa ra được bằng
chứng cụ thể nào, mà chỉ phao tin, truyền miệng qua những giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân khác (vì lý do
nào đó làm tay sai cho đảng), miễn sao nội dung vu khống được truyền tới tai giám mục hay bề
trên của nạn nhân như thể nó là chuyện kín đáo, bí mật nhưng “có thật”. 12 Nếu đảng có đưa ra
những bằng chứng cụ thể nào như thu âm, chụp hình, quay phim vv… thì dĩ nhiên cũng chẳng có
gì bảo đảm chúng đáng tin, vì với nghiệp vụ chuyên môn của lực lượng an ninh, tình báo mà
đảng dùng, 13 việc ngụy tạo những bằng chứng “nghe như thật”, “nhìn như thật” đó là chuyện
chẳng khó khăn gì.
Thế mà theo chỗ tôi biết, đảng cũng chẳng dám công khai để cho các bằng chứng cụ thể đó
được giám định khách quan, vì sợ lỡ như nếu như có người giỏi chuyên môn chứng minh đó là
bằng chứng giả, thì hóa ra “lợi bất cập hại”, “tự mình hại mình”. Ngay cả giả như bằng chứng
đưa ra là thật, thì chính sự kiện đảng làm chuyện đó cũng đủ chứng minh đảng không tôn trọng
tự do tôn giáo của GHCG rồi. Quả thật, đảng có coi Giáo Hội là một thứ kẻ thù, thì mới dùng lực
lượng an ninh theo dõi, giám sát sinh hoạt của giáo sĩ, tu sĩ, bằng không làm sao đảng biết được
mấy chuyện kín đáo, bí mật riêng tư như thế. 14 Chưa kể lỗi phạm của một giáo sĩ, tu sĩ đối với sự
độc thân khiết tịnh, nếu có ở đây, cũng chỉ thuần túy thuộc lãnh vực tôn giáo, chứ không phải là
những vi phạm dân sự hay hình sự mà nhà nước của đảng có quyền can thiệp vào. Cho nên nếu
đảng rêu rao, bêu xấu một linh mục, tu sĩ về lỗi phạm này, thì chính đảng vi phạm luật pháp
quốc gia về việc bảo vệ danh dự của một công dân. Sau cùng, việc làm khả ố này của đảng chỉ
———————————————————————————————————————
12 Kẻ tiếp tay cho việc vu khống này của đảng thường nói với giám mục hay bề trên của nạn nhân: “Chỉ tin tưởng
đức cha/cha bề trên con mới dám kể chuyện có thật này thôi…”
13 Để bảo vệ quyền lợi của đảng, chống lại và tiêu diệt những kẻ thù của quyền lợi đó, ĐCS đương nhiên ưu tiên đầu
tư tiền bạc, tài năng, nhân sự trên hết cho lực lượng, hệ thống công an mật vụ, bao hàm cả chuyên ngành an ninh tôn
giáo. Trừ khi ở trong cuộc, bằng không người ta khó mà hiểu được lực lượng, hệ thống này của đảng ghê gớm như
thế nào. Để có thể hình dung đôi chút về sự ghê gớm của nó hãy nghe lời tiết lộ sau đây của một viên công an với
cha Nguyễn Vũ Việt: “Nếu ngành công an chúng tôi biết ai chống lại đảng, dù chỉ chống một lần và sau đó không
chống nữa, thì chúng tôi vẫn tiếp tục theo dõi người đó trong vòng 20 năm” (khi đó cha Việt còn là một chủng sinh
dự tu của giáo phận Phú Cường, vừa được ra khỏi tù và chuẩn bị qua Mỹ theo diện tù nhân lương tâm – ngài bị tù
mấy năm vì giúp cha Tađêô Nguyễn Văn Lý, chú ruột của ngài, trong cuộc tranh đấu cho tự do tôn giáo cuối năm
2000).
14 Thật đúng như Nhận định suy nghĩ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam vào năm 2017 về luật tín ngưỡng, tôn giáo
2016 phê phán: “Chính quyền nhìn các tổ chức tôn giáo thuần túy trên bình diện chính trị, xem các tổ chức tôn giáo
như những lực lượng đối kháng. Do cách nhìn như thế, trong Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, có những điệp khúc… như
‘theo quy định của Pháp luật’, ‘chia rẽ dân tộc, chia rẽ tôn giáo’, hoặc những khái niệm mơ hồ trừu tượng như ‘xâm
phạm quốc phòng, an ninh’, ‘xâm phạm chủ quyền quốc gia’… Những điệp khúc và những từ ngữ mơ hồ trên rất dễ
bị lạm dụng để quy kết trách nhiệm và lên án các tổ chức tôn giáo khi chính quyền không hài lòng. Cũng vậy, chính
quyền đã tiêu tốn biết bao nhiêu tiền của và nhân lực để theo dõi, dò xét, kiểm soát mọi hoạt động tôn giáo, đồng
thời sử dụng các tổ chức tôn giáo như công cụ của chế độ”.
Ở Mỹ, khi có bằng chứng Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ và Cục Điều Tra Liên Bang (FBI) của chính phủ tổng thống Biden,
từ khi ông này thắng cử tổng thống cuối năm 2020 (nhiều người nghi là nhờ gian lận phiếu), không ngừng sai phái
nhân viên theo dõi, giám sát những người Công Giáo truyền thống, các dân biểu Đảng Cộng Hòa đã đòi buộc bộ
trưởng tư pháp Merrick Brian Garland và giám đốc FBI Christopher Asher Wray ra điều trần. Tại buổi điều trần các
dân biểu đã chất vấn ráo riết và phê phán nghiêm khắc hai tay lãnh đạo này, lên án việc theo dõi, giám sát đang nói
là một hình thức kỳ thị tôn giáo, vi phạm quyền tự do tôn giáo.
6
khiến những người dân biết chuyện cười vào mặt đảng, cười sự giả hình, giả dối của đảng. Thật
vậy, nếu có thật các giáo sĩ, tu sĩ mắc lỗi phạm đang nói, thì đó cũng chỉ là một thiểu số không
đáng kể chút nào trong tập thể các giáo sĩ, tu sĩ của Giáo Hội; hoàn toàn tương phản, đối nghịch
nếu so sánh với ĐCS, vì đại đa số đảng viên có quyền, có tiền trong đảng, chẳng những tay nào
cũng có chuyện vợ bé, bồ bịch, gái gú, tham nhũng, hối lội, mà lại còn làm những chuyện xấu xa
đó “thường như cơm bữa”.
Cho nên rốt cục, có bằng chứng cụ thể hay không, và nếu có thực giả thế nào, thì những
thông tin đó cũng chỉ trực tiếp đến từ mấy tay giáo gian. Chỉ có họ mới “khẳng định” với giám
mục hay bề trên của nạn nhân là họ đã được trực tiếp nghe băng ghi âm, coi hình chụp hay phim
quay… về những “lỗi phạm” đang nói của nạn nhân. Vậy mà cũng có những giám mục, bề trên
“ngây ngô” đi tin mấy cái “bằng chứng” vu khống này. Đáng lẽ các ngài, chẳng những phải phủ
nhận ngay giá trị xác thực của chúng, mà còn nên phản đối, phê phán đảng về việc làm xúc phạm
tự do tôn giáo và mang tính giả hình, giả dối như thế.
(2) Kiểu thông thường thứ hai
Nhưng “ngây ngô”, “nghờ nghệch” nhất là khi có những giám mục, linh mục lại tin vào nội
dung bịa đặt kiểu thứ hai của ĐCS, tức tin rằng khi một giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân lên tiếng nói ngôn
sứ phê phán, phản đối những sai trái, xấu xa của đảng, thì rất có thể vị đó đang làm việc cho
đảng, làm “antenna” cho đảng. Một điển hình của sự bịa đặt này là trường hợp cha Phêro
Nguyễn Văn Khải, linh mục dòng Chúa Cứu Thế, một ngôn sứ can đảm và kiên cường từ vụ tu
viện Thái Hà và vụ toà Khâm Sứ. Khi không bịt miệng ngôn sứ của ngài được, thì để vô hiệu hóa
tiếng nói ngôn sứ của ngài, đảng quay ra cho loan tin dựng đứng là ngài làm tay sai cho đảng.
Những ai tin vào nội dung bịa đặt, dựng đứng kiểu này của đảng, đương nhiên lẫn lộn giữa việc
chống lại đảng bằng những phê phán, phản đối công khai về mặt ngôn luận, và việc chống lại
đảng bằng những hoạt động ngầm, bí mật, thành lập tổ chức chính trị mà mục đích là trực tiếp lật
đổ sự cai trị của đảng. Đáng lý người ta phải biết dùng đầu óc mà suy nghĩ một chút, để nhận ra
rằng đối với việc chống lại đảng cách thứ nhất, càng có ít người làm vậy, thì lại càng lợi cho
đảng chứ. Đảng biết quá rõ đại đa số dân VN trong bụng chán ghét đảng – một thực tế không thể
thay đổi được, 15 nhưng bao lâu họ chỉ chán ghét trong bụng thôi, chứ không lên diễn đàn hay
xuống đường công khai phê phán, phản đối những sai trái, xấu xa của đảng, thì họ vẫn không gây
nguy hại gì cho đảng. Đảng ngu ngốc gì lại đi sai giáo sĩ này, tu sĩ nọ công khai phê phán, phản
đối mạnh mẽ những sai trái, xấu xa của đảng, để khích lệ ngày càng có thêm nhiều người khác
làm như vậy chống lại đảng. 16
Cũng thuộc về thông tin sai sự thật kiểu thứ hai nhưng ở hình thức nhẹ hơn (thay vì đưa ra
kết luận cáo buộc một giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân đang làm việc cho đảng, làm “antenna” cho đảng):
1/. Nội dung phao tin của ĐCS chỉ gieo rắc nghi ngờ về chính tính cách ngôn sứ của một giáo sĩ,
tu sĩ, giáo dân lên tiếng phê phán những sai trái của đảng, nơi những ai vừa không biết rõ về quá
khứ của vị đó, vừa không hiểu mấy về sự xảo trá của đảng. Một trong các nạn nhân của hình
——————————————————————————————————————————–
15 Dĩ nhiên, vì bản tính xấu xa tận căn, ĐCS chỉ có thể trở thành xấu hơn, chứ không thể trở thành tốt được, nên
không thể thay đổi lòng dân đối với đảng được.
16 “Ăn không được thì quậy cho hôi”, chiêu này người đời làm cho kẻ thù của mình, chứ người đời có ai ngu dại gì
đi xúi kẻ khác làm vậy cho mình.
7
thức này là cha Phêrô Phan Văn Lợi, linh mục tổng giáo phận Huế, một ngôn sứ kiên cường, bất
khuất ngay từ những năm 80. Đảng qua hệ thống ngoại vận đã từng lợi dụng tay bút khét tiếng ở
hải ngoại là Nguyễn Cần (bút hiệu là Lữ Giang hoặc Tú Gàn) đặt vấn đề về động lực của tiếng
nói ngài và tính xác thực của những gì ngài nói, và nhất là tạo nghi ngờ về “quan hệ” giữa ngài
với đảng: tại sao ngài phê phán, phản đối đảng mạnh mẽ như vậy mà vẫn không bị đảng bỏ tù. 17
2/. Nội dung phao tin chỉ nhắm đưa đến kết luận rằng một giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân nào đó vốn có
lập trường ngôn sứ trước đây thì nay đã thay đổi, yếu đi, không còn muốn chống lại đảng nữa,
hoặc tệ hơn bắt đầu tỏ ra có một số thiện cảm với đảng. Một trong các nạn nhân là đức cha Phêrô
Nguyễn Văn Khảm, đương kim giám mục giáo phận Mỹ Tho. Biết rõ lập trường ngôn sứ của
ngài lúc còn làm giám mục phụ tá tổng giáo phận Sài Gòn, 18 cũng như biết ngài được hồng y
Phạm Minh Mẫn và nhiều linh mục trong tổng giáo phận tín nhiệm, đảng đã tráo trở, xuyên tạc
uy tín này của ngài trong Giáo Hội, để triệt tiêu khả năng ngài có thể được chọn kế vị hồng y
Mẫn, làm tổng giám mục Sài Gòn mà gây hại nhiều hơn cho quyền lợi của đảng. 19
————————————————————————————————————————————–
19 Đặc biệt qua hệ thống ngoại vận, đảng đã mở một cuộc đánh phá đức cha Khảm cách hung dữ trên truyền thông
hải ngoại, lên án ngài cách hoàn toàn bất công, tố cáo ngài có lập trường “thiên cộng”, đặc biệt khi những kẻ đánh
phá mổ xẻ “kiểu sợi tóc chẻ tư”, hoàn toàn ngoài văn mạch, bài giảng về cánh chung của ngài (ngài giảng lúc còn
làm cha phó nhà thờ chính tòa Sài Gòn, chắc cũng cả chục năm trước đó). Trái lại, đối với đức cha Phaolô Nguyễn
Văn Đọc, một giám mục mà một số phát biểu và hành động công khai cho thấy nếu ngài không phải có lập trường
yếu ớt đối với đảng, thì ít nữa ngài cũng thuộc loại “ba phải”; nếu ngài không phải có phần “thiên cộng”, thì ít nữa
ngài cũng tỏ ra có nhiều ác cảm với lập trường chống cộng. Thế mà chẳng có mấy ai ở hải ngoại viết lách, lên tiếng
8
b. Hai kiểu ít thông dụng hơn của nội dung thông tin sai sự thật
Nếu thông tin sai sự thật thuộc hai kiểu thông thường nói trên không dùng được mà chỉ
phản tác dụng, thì ĐCS lại tạo ra những thông tin sai sự thật kiểu khác, dù ít thông dụng hơn,
nhưng vẫn không kém hiệu quả vì nội dung “có vẻ” khách quan, thiết thực, và dễ thuyết phục
hơn, nhờ chính yếu đụng đến tính cách, khả năng lãnh đạo, giải quyết công việc của vị giám
mục, linh mục, tu sĩ có lập trường hay hành động ngôn sứ. Thường để có hiệu quả, đảng phải
phối hợp với thủ đoạn số 3 đã nêu trên, tức tạo ra hay sắp xếp, điều khiển những tình huống,
hoàn cảnh và nhân sự (đặc biệt là cài đặt các giáo gian) theo hướng thuận lợi cho việc “củng cố”
và “loan truyền” những thông tin sai sự thật đang nói. Bắt đầu từ một số giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân
làm giáo gian, đảng đã loan truyền những thông tin sai sự thật này từ trong nội bộ tổ chức của
Giáo Hội dưới sự lãnh đạo của vị giám mục, linh mục, tu sĩ đang nói, tức giáo phận, giáo xứ,
cộng đoàn.
Một kiểu của thông tin sai sự thật ít thông dụng đang nói là chụp cho các nạn nhân cái mũ là
loại người thích danh tiếng, thậm chí thích nổi bật một mình. Các nạn nhân bị tố cáo là không có
tinh thần làm việc chung với các giám mục, linh mục, tu sĩ khác, và không chịu nghe những
khuyên nhủ, góp ý của anh em, cố chấp trong lập trường “chống cộng” cách quá khích, cực đoan,
liều lỉnh của cá nhân mình, chẳng những không giải quyết được các xung khắc giữa Giáo Hội và
đảng, mà còn làm cho chúng tồi tệ hơn, tăng thêm sự căng thẳng không cần thiết giữa hai bên.
Sau cùng, các nạn nhân bị kết án là nguyên nhân gây chia rẽ, xáo trộn, bất ổn bên trong giáo
phận, giáo xứ, cộng đoàn. Các nạn nhân nỗi tiếng của kiểu thông tin sai sự thật này trường hợp
đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, cựu tổng giám mục Hà Nội, và trường hợp nhiều linh mục tu sĩ
thuộc ban lãnh đạo hay có uy tín trong Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế VN, và ở một mức độ ít
nghiêm trọng hơn là trường hợp đức cha Micae Hoàng Đức Oanh, cựu giám mục Kontum.
Kiểu thông tin sai sự thật đang nói cũng có khi phê phán nạn nhân không có hay thiếu khả
năng lãnh đạo, tổ chức, điều hành để được giao cho những chức vụ, quyền hành lãnh đạo cao
hơn, hay thậm chí để được lưu giữ trong chức vụ, quyền hành hiện có. Một ví dụ là trường hợp
đức cha Phêrô Nguyễn Văn Viên, giám mục phụ tá giáo phận Vinh. Trước khi vào đại chủng
viện, đức cha Viên đã có bằng đại học về nông nghiệp, mà trong đó cũng có môn quản trị, điều
hành. Sau khi trở thành linh mục, ngài được gửi đi du học thần học ở Úc, tốt nghiệp với bằng
tiến sĩ hạng ưu. Về nước làm phó giám đốc đại chủng viện Vinh Thanh được đa số chủng sinh
kính phục. Rồi ngài được phong làm giám mục phụ tá kiêm luôn cả chức tổng đại diện của giáo
phận Vinh, điều hành một giáo phận đông giáo sĩ và giáo dân nhất ở miền Bắc vào lúc đó. Sau đó
ngài được điều đi làm giám quản giáo phận Hưng Hóa có một địa bàn rộng lớn, để rồi sau vài
năm trở về lại Vinh vẫn tiếp tục làm giám mục phụ tá! Đối với một giám mục phụ tá với khả
năng tri thức và kinh nghiệm lãnh đạo trong thực tế như thế, vậy mà đảng vẫn phao tin nơi nhiều
giám mục và linh mục trong nước là đức cha Viên yếu kém về khả năng điều hành, lãnh đạo,
không nên được chọn làm giám mục chính tòa. Vậy mà vẫn có những giám mục, linh mục lại đi
——————————————————————————————————————————-
19 phê phán gì đức cha Đọc trong thời gian Tòa Thánh thăm dò, tìm hiểu, để chọn ứng viên cho chức vụ tổng giám
mục Sài Gòn. Phải chăng theo kế hoạch của đảng, đức cha Đọc mới là đối tượng mà đảng muốn có chức vụ đó? Dù
sao, thực tế là sau cuộc đánh phá dữ dằn và bẩn thỉu đối với đức cha Khảm, thì không phải ngài mà chính đức cha
Đọc trở thành tổng giám mục Sài Gòn.
9
tin lời đồn thất thiệt, sai trái này, không nhận ra ý đồ đen tối đàng sau của đảng: đảng tìm mọi
cách ngăn chặn đức cha Viên trở thành giám mục chính tòa, nhất là ở giáo phận Vinh, chẳng qua
vì ngài có lập trường ngôn sứ kiên định, lại được đa số các linh mục trong giáo phận Vinh, quê
hương của ngài, tín nhiệm, nên nếu ngài có chức vụ đó sẽ là mối nguy hại cho quyền lợi của
đảng.
B. Giáo Dục Giới Học Sinh, Sinh Viên và Giới Trí Thức Nghiên Cứu
Thuộc về bản tính và sứ mạng rao giảng Tin Mừng của GHCG là hoạt động mở trường
giáo dục văn hóa thanh thiếu niên từ tiểu học đến đại học theo luân lý và đức Tin Công Giáo,
cũng như mở các trung tâm huấn luyện hay trợ giúp giới trí thức chuyên môn nghiên cứu về các
vấn đề chính trị, xã hội, và khoa học trong ánh sáng của các sự thật luân lý và đức Tin.
Hệ thống giáo dục công cộng dưới sự lãnh đạo và điều hành trực tiếp của ĐCS không
phải để tạo nên những con người tốt cho đất nước, xã hội, mà chính yếu chỉ là phương tiện làm
giàu cho đảng (ít nữa bộ phận đảng nắm quyền trong ngành giáo dục), cho bản thân các đảng
viên và gia đình, phe nhóm của họ, miễn sao về mặt hình thức vẫn phải tiếp tục áp đặt ý thức hệ
chính trị của đảng trong nội dung giáo dục, vẫn phải duy trì, thậm chí tăng thêm những thứ “kiến
thức” mà “trò không muốn học, thầy không muốn dạy”. Cho nên, không lạ gì hệ thống giáo dục
công cộng của đảng, chẳng những tiếp tục suy thoái, mà còn đang đến chỗ quá tồi tệ, khủng
hoảng vô phương cứu chữa, nhất là về mặt đạo đức nhân bản, “thầy không ra thầy, trò không ra
trò”. Trong một hai thập niên qua, đảng cho nhiều cá nhân hay tổ chức trong và ngoài nước mở
trường từ tiểu học đến đại học. Đảng làm vậy vì nhiều ích lợi khác nhau: từ việc có thêm nguồn
tham nhũng, hối lộ, đến việc giúp cho con em của đảng có trình độ kiến thức thích hợp mà nhiều
trường công của đảng không làm được. Dĩ nhiên để hoạt động, các trường tư này phải chịu sự
kiểm soát, giám sát của đảng, nội dung lẫn nhân sự giảng dạy đều phải được đảng cho phép sau
khi kiểm duyệt và điều tra, cho nên về mặt giáo dục đạo đức nhân bản, chúng cũng chẳng khá
hơn các trường công bao nhiêu; chúng chỉ khá hơn về mặt kiến thức thôi. Nhưng để có được
phẩm chất kiến thức, chi phí điều hành của các trường tư đang nói rất lớn, dẫn đến học phí quá
cao, nên hầu hết học sinh ở các trường này không phải là con cái của dân nghèo hay lợi tức trung
bình, mà là con cái của các đảng viên và một bộ phận nhỏ dân thường có đời sống kinh tế khá
giả.
Thế nhưng, đối với GHCG, ngoại trừ các trường mẫu giáo, mầm non, ĐCS vẫn tuyệt đối
cấm đoán mọi hoạt động giáo dục, tri thức nào cao hơn. Tại sao đảng lại không cho Giáo Hội mở
trường từ tiểu học đến trung học, để cung cấp một nền giáo dục miễn phí hay học phí thấp,
nhưng khá hơn hơn về mặt kiến thức (so với các trường công), cho con em của đa số dân nghèo
trong nước không có điều kiện tài chính học ở các trường tư khác? Người ta có thể trả lời ngay:
một đàng đảng đâu có thèm quan tâm đến đám dân nghèo mà cho phép Giáo Hội mở trường giúp
đỡ họ; đàng khác, làm vậy xem ra đảng cũng chẳng kiếm được bao nhiêu lợi lộc từ việc cho phép
đó, vì Giáo Hội đâu có thể hối lộ hậu hĩ cho đảng để mở trường, điều hành trường.
Những câu trả lời nói trên đúng nhưng chưa đủ, chưa thật sự đi vào trọng tâm. Lý do chính
yếu tại sao ĐCS tuyệt đối cấm GHCG thiết lập và điều hành bất kỳ hệ thống giáo dục nào cao
hơn mẫu giáo là vì đảng muốn loại trừ trước thứ mầm họa nguy hiểm nhất, gây bất lợi lớn nhất
cho quyền lực chính trị và lợi ích kinh tế của đảng trong tương lai. Mầm họa đó là những học
10
sinh, sinh viên, trí thức được đào tạo từ nền giáo dục Công Giáo sẽ trở thành những người quan
tâm đến quốc gia, dân tộc, và có khả năng thay đổi đất nước, xã hội theo chiều hướng phù hợp
với công lý và các giá trị nhân bản, đạo đức khác, và như vậy là đối nghịch với quyền lợi của
đảng.
Thật vậy, nhờ nền giáo dục đích thực của GHCG, qua hệ thống trường Công Giáo từ tiểu
học đến đại học, mà một học sinh được giáo dục tốt không chỉ về kiến thức mà còn về đạo đức
nhân bản, rồi trở thành một sinh viên học vấn cao, có đạo đức, và sau cùng sẽ trở thành một trí
thức có tâm hồn cao thượng, dám hy sinh bản thân cho tha nhân, một kẻ sĩ chân chính, “quốc gia
hưng vong thất phu hữu trách”, can đảm đứng lên gánh vác trách nhiệm phục vụ cho đại nghĩa
quốc gia, dân tộc. Một một trí thức, kẻ sĩ như thế, làm sao lương tâm có thể để yên cho đảng tiếp
tục gây ra những tệ nạn xấu xa và những bất công sai trái, tác hại to lớn đối với quốc gia, dân
tộc. Người đó sẽ không chỉ lên tiếng phản đối, phê phán đảng về những tệ nạn và bất công trong
xã hội, mà còn sẽ hỗ trợ, tham gia, hay ngay cả đứng lên tổ chức, thành lập các phong trào, đảng
phái, có mục đích thiết thực và hệ trọng là thay đổi trật tự xã hội (dù bằng cách bất bạo động),
làm biến mất cái cơ chế độc tài, toàn trị của đảng, cái nguyên nhân chính trị, xã hội, kinh tế của
những cái xấu đang nói. Cho dù có tránh trực tiếp động chạm đến đảng, một nền giáo dục đích
thật của Giáo Hội vẫn không thể không tạo ra những học sinh, sinh viên, trí thức vừa nói trên.
Trái lại, để quyền lợi được duy trì và tăng thêm, đảng thật ra chỉ muốn những học sinh, sinh viên,
trí thức có đời sống đạo đức nhân bản tầm thường, thấp hèn, nếu không “an phận thủ thường”,
thì chỉ ích kỷ, “cầu danh hám lợi”.
Tóm lại, những sinh viên, trí thức được tạo ra từ nền giáo dục đích thực của GHCG sẽ là
mối nguy hiểm lớn nhất, gây bất lợi nhiều nhất cho quyền lực chính trị bất chính và lợi ích kinh
tế phi pháp của ĐCS. Vậy thì, đảng đương nhiên phải tuyệt đối cấm Giáo Hội có bất kỳ hoạt
động giáo dục nào có thể dẫn đến mầm họa đáng sợ nhất, nguy hiểm nhất này.
C. Truyền Giáo ở Vùng Sâu, Vùng Xa, Vùng Rừng Núi và Cao Nguyên
Chính yếu thuộc về bản tính và sứ mạng của GHCG là phải rao giảng Tin Mừng của Chúa
Giêsu và rửa tội cho mọi người ở mọi nơi và mọi thời. Cho nên một trong những bổn phận hàng
đầu của Giáo Hội tại VN hiển nhiên là hoạt động truyền giáo, tức rao giảng đạo thánh Công Giáo
cho những người ở vùng sâu, vùng xa, nhất là cho các dân tộc thiểu số ở vùng rừng núi, cao
nguyên miền Bắc và miền Trung. Tuy không chính thức cấm tuyệt đối hoạt động này của Giáo
Hội, nhưng trong thực tế ĐCS hạn chế tối đa, đến mức có những trường hợp không khác gì bị
cấm hẳn.
Tại sao đảng hạn chế tối đa hoạt động truyền giáo của Giáo Hội ở những vùng này? Phải
chăng vì bộ phận lãnh đạo của đảng ở những nơi này (chính quyền địa phương) nhận thức vẫn
còn lạc hậu, bảo thủ trong lập trường giáo điều, theo sát chủ trương vô thần, nên phải hạn chế tối
đa mọi hoạt động tôn giáo? Đúng thế, nhưng lý do không chỉ có vậy, hay chính yếu không phải
vậy. Không thể đổ hết lỗi của việc hạn chế tối đa này cho bộ phận lãnh đạo đảng ở địa phương:
chắc chắn có chỉ thị chính thức, hay ít nữa có lệnh ngầm từ chính bộ phận lãnh đạo đầu não hay
trung ương đảng. Phần nào giống như việc đảng tuyệt đối cấm Giáo Hội mở trường giáo dục văn
hóa giới thanh thiếu niên từ tiểu học tới đại học, lý do chính yếu của việc đảng hạn chế tối đa
việc truyền đạo Công Giáo cho vùng sâu, vùng xa, vùng rừng núi và cao nguyên, thật ra là nhằm
11
ngăn chặn những mầm họa trong tương lại, gây bất lợi cho quyền lực chính trị và lợi ích kinh tế
của đảng có liên quan đến những vùng này. “Ngu nghèo thì dễ trị”, Đảng biết rất rõ là nếu cứ để
nhân dân ở những vùng này, nhất là các dân tộc thiểu số, chính yếu vẫn sống trong tình trạng
nghèo đói, không có hay thiếu trình độ văn hóa phổ thông, sống mộc mạc, bình dị theo những tín
ngưỡng và văn hóa cố truyền của họ (bao gồm cả nhiều tập tục mê tín), không theo mô hình tổ
chức chặt chẽ, hữu hiệu nào ngoại trừ cơ cấu tổ chức của đảng ở địa phương (thôn, ấp, xã, huyện
vv…), thì họ tiếp tục ngoan ngoãn chịu sự cai trị và bóc lột của đảng, ngay cả khi đảng làm vậy
bằng những cách hết sức bất công, phi lý – những cách mà đảng không dễ dàng áp dụng cho
người dân ở những vùng nông thôn, thành thị đông đúc, kinh tế phát triển. Trái lại, nếu đảng để
Giáo Hội tự do truyền giáo cho những người dân ở những vùng sâu, vùng xa, vùng rừng núi và
cao nguyên, nhất là cho các dân tộc thiểu số, thì chắc chắn sau môt thời gian, đời sống của họ,
chẳng những được cải thiện về mặt vật chất, mà nhất là sẽ được thay đổi cách quan trọng, đáng
kể, về mặt tinh thần. Khi đời sống được biến đổi như thế và bản thân trở thành những Kitô hữu
Công Giáo, những người dân như những anh chị em dân tộc thiểu số chắc chắn sẽ nhận thức rõ
ràng, mạnh mẽ về những quyền lợi chính đáng của họ, nhất là những nhân quyền căn bản, và trên
hết về phẩm giá thiêng liêng cao cả làm con cái Chúa của họ. Bản thân có được nhận thức như
thế, họ lại còn được GHCG tổ chức theo cơ cấu, tổ chức của đạo (như giáo họ, giáo xứ, và giáo
phận), được tiếp tục dạy dỗ, hướng dẫn, và lãnh đạo. Như vậy, đến lúc đó, một mặt các anh chị
em dân tộc thiểu số sẽ không còn ngoan ngoãn chịu đựng, chấp nhận sự cai trị và bóc lột của
đảng như trước nữa. Mặt khác, những giáo sĩ nào được Giáo Hội giao phó bổn phẩn coi sóc họ
mà có tinh thần mục tử, chắc chắn sẽ bênh vực, bảo vệ họ cách nào đó nếu như họ bị đảng ngược
đãi, bóc lột.
II. NHIỀU HOẠT ĐỘNG CỦA GHCG ĐƯỢC ĐCS CỞI MỞ, DỄ DÃI – LÝ DO
CỦA NHỮNG CỞI MỞ, DỄ DÃI VỀ CẢ HAI PHÍA
Một thực tế rõ ràng, không thể phủ nhận đó là có nhiều hoạt động tôn giáo của GHCG,
thuộc những lãnh vực sau đây, được ĐCS ngày càng cởi mở, dễ dãi, dĩ nhiên theo những chừng
mực khác nhau: (1) Hoạt động phụng tự (và bí tích) nói chung ở những vùng thành thị hay những
vùng nông thôn đông đúc, kinh tế phát triển. (2) Hoạt động huấn luyện linh mục (chủng viện), tu
sĩ (tập viện, học viện), kể cả gửi đi tu học ngoại quốc. (3) Hoạt động xuất ngoại để thăm viếng
hay quyên góp của giám mục, linh mục, tu sĩ. (4) Hoạt động xây sửa các cơ sở vật chất (nhiều cái
rất to lớn) cho sử dụng tôn giáo như nhà thờ, đền thánh, trung tâm hương, trung tâm mục vụ vv…
(5) Hoạt động tổ chức và cử hành các lễ hội, họp hành, hội thảo vv… với quy mô vượt mức địa
phương của một giáo xứ, một giáo phận. (6) Hoạt động bác ái từ thiện như thăm viếng cứu trợ,
điều hành trạm xá y tế nhỏ vv… (7) Ngay cả đối với hoạt động tuyển chọn, bổ nhiệm các chức
sắc lãnh đạo cao cấp trong Giáo Hội như các giám mục, sự can thiệp của đảng xem ra đang giảm
bớt.
Tại sao ĐCS ngày càng cởi mở, dễ dãi đối với những hoạt động tôn giáo nói trên của GHCG
tại VN? Có lý do từ cả phía đảng cũng như phía lãnh đạo Giáo Hội.
A. Về Phía ĐCS: Cởi Mở, Dễ Dãi để Phục Vụ cho Quyền Lợi của Đảng
12
Những cởi mở, dễ dãi nêu ra ở trên dĩ nhiên không phải vì ĐCS thực sự muốn tôn trọng
quyền tự do tôn giáo của GHCG. Chúng không hề là những thiện chí tự phát của đảng như thể
đến từ sự thay đổi lập trường và mục đích của đảng trong tương quan với GHCG, vì không thể
có những thay đổi quan trọng, phương chi là triệt để, bao lâu đảng vẫn còn muốn độc quyền lãnh
đạo đất nước và xã hội. 20 Những cởi mở, dễ dãi này về mặt lịch sử phần nào bắt nguồn từ đòi hỏi
phải tôn trọng tự do nhân quyền, như một trong các điều kiện mà việc bang giao và buôn bán với
các nước dân chủ Âu Mỹ đặt ra cho đảng. Từ khi bang giao, buôn bán với thế giới “tự do”, đảng
buộc phải giảm đi khá nhiều đường lối đối xử với Giáo Hội theo kiểu giáo điều Marxist, 21 nhưng
thật ra đảng đã sớm chuẩn bị cho việc đối xử với Giáo Hội theo một đường lối mới: làm sao sử
dụng những cởi mở, dễ dãi đang nói để phục vụ hữu hiệu cho quyền lợi của đảng, tối thiểu không
kém đường lối cũ.
Đường lối đối xứ mới này của đảng được thực hiện theo hai cách mà qua đó đảng cởi mở, dễ
dàng với nhiều hoạt động của Giáo Hội. Cách thứ nhất là nhờ quan hệ trực tiếp, tức đảng làm
việc thẳng với vị lãnh đạo Giáo Hội có liên quan, dù là giám mục, linh mục, hay tu sĩ bề trên. Vì
tính hữu hiệu của cách này đương nhiên chỉ được thấy rõ ở chỗ tiếng nói ngôn sứ trong xã hội bị
thỏa hiệp, làm suy yếu, và bị phản bội như thế nào nơi nhiều giám mục, linh mục, tu sĩ, nên sẽ
được bàn giải cách thích hợp trong phần nói về phía lãnh đạo Giáo Hội. 22 Cách thứ hai là nhờ
quan hệ gián tiếp, nghĩa là đảng làm việc với các vị lãnh đạo trong Giáo Hội qua những môi giới
trung gian, là những người cộng tác đắc lực với đảng, được đảng tin dùng, dù sự cộng tác đó lúc
ban đầu là do tự nguyện hay vì bị ép buộc. Trong quá khứ, lúc đường lối đối xử với Giáo Hội
chính yếu theo kiểu giáo điều Marxist, nhưng cởi mở, dễ dãi nói chung chỉ được ban nhỏ giọt và
thường ngắn hạn, nhất thời, thì môi giới trung gian đảng dùng là một nhóm nhỏ linh mục tham
gia ủy ban đoàn kết. Nhưng từ sau khi mở cửa kinh tế, ban giao, làm ăn với các nước Âu Mỹ,
nhất là trong vòng một hai thập niên trở lại, vai trò trung gian của các linh mục này lu mờ nhiều,
thậm chí không còn mấy cần thiết, và đang nhường chỗ cho những vai trò mới khác mà đảng cần
họ làm. 23 Thay thế các linh mục của ủy ban đoàn kết, đảng hiện đang dùng nhiều đại gia “Công GIÁO’
——————————————————————————————————–
20 Xem lại nhận xét mở đầu của bài viết này.
21 Tức ĐCS coi GHCG là một thứ kẻ thù gần như không đội trời chung, cả theo lý thuyết (đối nghịch với chủ nghĩa
duy vật vô thần, ý thức hệ của đảng từng thống trị trong quá khứ, nhưng hiện nay chỉ còn là chuyện hình thức) lẫn
trong thực tế, và do đó cần phải loại trừ Giáo Hội, xét như là một thực thể xã hội có cơ cấu, tổ chức và hoạt động
độc lập, ra khỏi vòng pháp luật, thường bằng cách biến Giáo Hội thành một tổ chức quốc doanh, trực tiếp dưới sự
lãnh đạo của đảng (như đảng làm ở Trung Quốc và nhiều nước cộng sản khác); còn nếu không thể làm được vậy, thì
đảng phải cấm đoán khắt khe mọi hoạt động của Giáo Hội, để Giáo Hội không thể phát triển mà dần dần bị tiêu diệt
(như đảng làm ở miền Bắc VN từ năm 1954, và khắp cả nước từ năm 1975, ít nữa cho đến gần cuối thập niên 80 của
thế kỷ qua).
22 Xem mục B ở dưới.
23 Hiện nay số các linh mục tham gia ủy ban đoàn kết, hội đồng nhân dân… nhiều hơn trước đây, nhất là ở hai giáo
phận Vinh và Xuân Lộc (nhưng vẫn có giáo phận không có ai, ví dụ tổng giáo phận Huế). Các linh mục này công
khai vi phạm luật Giáo Hội: khoản luật 285 của bộ Giáo Luật hiện thời cấm giáo sĩ tham gia các hoạt động công
quyền, trần thế, vì không phù hợp với sứ vụ thánh thiên, siêu việt của các ngài. Vậy mà các giám mục của các vị lại
bỏ qua, coi đó như là việc “bình thường”, “không đáng đặt thành vấn đề”, nếu không phải ngầm ngầm ủng hộ, khích
lệ.
Sự kiện này cho thấy vai trò hiện nay mà ĐCS muốn các linh mục này đóng là giúp đánh bóng, tô vẽ, tuyên truyền,
“chứng minh” cho mọi người trong và ngoài nước thấy: quan hệ giữa đảng và Giáo Hội hiện được “bình thường
hóa” hoàn toàn, “không còn vấn đề khúc mắc, hiểu lầm” nào giữa hai bên, hơn nữa ngày càng “tốt đẹp” hơn, “tốt
đạo, đẹp đời” nhiều hơn, đến nỗi có nhiều linh mục tham gia ủy ban đoàn kết, hội đồng nhân dân, để góp phần “tích
cực” hơn, “hữu hiệu” hơn trong việc xây dựng và bảo vệ một nước VN “xã hội chủ nghĩa”.
13
Giáo”, những người trở thành giàu có mà không thể không hối lộ đảng, làm ăn, chia chác với
đảng. 24 Vì các đại gia này là những ân nhân rất “quảng đại” đối với nhiều hoạt động của nhiều
giám mục, linh mục, tu sĩ, nhất là hoạt động xây sửa cơ sở vật chất (nhiều cái rất nguy nga, đồ
sộ), nên đảng dùng họ gây ảnh hưởng quan trọng trên cách ứng xử của các vị đó đối với đảng.
Ngày càng có nhiều trường hợp chứng tỏ: một mặt đảng dùng các đại gia này áp lực lên các giám
mục, linh mục, tu sĩ, làm cho tiếng nói ngôn sứ trong cộng đoàn giáo hội thuộc quyền các vị yếu
đi, thậm chí như mất hẳn; và mặt khác, đảng tỏ ra cởi mở, dễ dãi hơn đối với vị lãnh đạo Giáo
Hội nào chịu làm theo “lời cố vấn” của các tay đại gia đang nói.
1. Phục Vụ cho Quyền Lực Độc Tài Toàn Trị của Đảng
Đường lối, chiến lược mới của đảng xem ra đang thành công bảo đảm được quyền lực độc
tài toàn trị của đảng chẳng bị ảnh hưởng gì nghiêm trọng bởi những cởi mở, dễ dãi đối với tôn
giáo, trước những thay đổi về hoàn cảnh chính trị, xã hội, và kinh tế từ khi bang giao và buôn
bán với Âu Mỹ. Chẳng những thế, đường lối đó còn làm cho quyền lực đó càng an toàn hơn nhờ
sử dụng chính những dễ dãi, cởi mở đang nói như cách thức hay một thứ chiến thuật làm suy yếu
nghiêm trọng để sau cùng triệt tiêu quan điểm và lập trường đối kháng (cách thụ động cũng như
chủ động) vốn có trước đây nơi một số giáo sĩ, tu sĩ, và giáo dân. Nói tắt, đường lối mới của
đảng là cởi mở, dễ dãi đối với nhiều hoạt động tôn giáo của Giáo Hội, để dùng chúng như một
thứ “thuốc phiện mê dân”, 25 “ru ngủ” người Công Giáo, giáo sĩ cũng như giáo dân, khiến họ
ngoan ngoản chấp nhận cái ách độc tài toàn trị của đảng. 26
Thực tế xem ra chứng minh rằng đường lối mới của đảng đang thành công. Tôi chỉ nói qua
ở đây tại sao nó thành công, và sẽ bàn giải nhiều hơn về lý do ở phần nói về phía lãnh đạo Giáo
Hội. Một đàng sau nhiều thập niên để được đảng cởi mở, nới lỏng, đa số các giám mục, linh mục
tại VN đã phải chấp nhận “nín thở qua cầu” và “ăn xôi chùa ngậm miệng”, 27 đàng khác các linh MỤC
————————————————————————————————————————
24 Dĩ nhiên không thể “vơ đủa cả nắm”, vì vẫn có một số nhỏ đại gia Công Giáo làm ăn rất thành công, nhưng chỉ
nhờ khả năng, kinh nghiệm khôn ngoan bản thân. Vì lương tâm đạo đức ngay thẳng, những giáo dân này không hối
lộ, làm ăn, chia chác gì với đảng cả, tránh tối đa việc qua lại với đảng, ngoại trừ việc phải đóng thuế do quy định
(bất công) của đảng.
25 Karl Marx, ông tổ của các ĐCS, từng lên án các giai cấp bóc lột, thống trị trong các xã hội trước đây là dùng “tôn
giáo” như “thuốc phiện mê dân”. Điều mỉa mai là hôm nay chính ĐCSVN, con cháu của Marx, một khi đã trở thành
giai cấp bóc lột, thống trị mới, tức giai cấp “tư bản đỏ” nói theo kiểu dân gian (xem lại chú thích số 3), không thể
không dùng lại cái chiêu cũ “tôn giáo là thuốc phiện mê dân” của các giai cấp bóc lột, thống trị đi trước, dù đảng
theo gương ông tổ không ngừng to mồm lên án chúng.
26 Dĩ nhiên “ru ngủ” áp dụng cho người Công Giáo, không có nghĩa là đảng mê hoặc họ bằng những thứ tin tưởng
hay thực hành sai quấy, mà chỉ có nghĩa là đảng quỷ quái dùng những cởi mởi, dễ dãi đối với nhiều hoạt động tôn
giáo, tự chúng đương nhiên tốt lành, chính đáng, để làm người Công Giáo coi thường, quên đi, hay thậm chí bỏ luôn
một số hoạt động tôn giáo khác, nhất là lên tiếng nói ngôn sứ phê phán, phản đối những sai trái, bất công mà đảng
gây ra cho đất nước, dân tộc. Trong lúc đó đối với nhiều thành phần khác trong dân chúng mà không phải Kitô hữu,
thì đảng đúng là “ru ngủ” họ, mê hoặc họ nhờ qua đủ thứ tín ngưỡng dân gian trong đó có biết bao điều mê tín, dị
đoan, những thứ tin tưởng và thực hành sai quấy. Điều mỉa mai là những thứ tín ngưỡng nặng màu sắc mê tín, dị
đoan này vốn từng bị đảng cấm đoán nghiêm ngặt trong quá khứ đến mức chúng gần như bị tiêu diệt hoàn toàn, thì
ngày hôm nay vì phục vụ hữu hiệu cho quyền lợi của đảng, chúng được đảng, chẳng những “cứu sống” trở lại, mà
còn tạo mọi điều kiện thuận lợi để tha hồ hoạt động trong dân chúng.
27 Trước khi ĐCSVN bang giao, buôn bán với các nước dân chủ Âu Mỹ, lúc vẫn còn đối xử với GHCG chính yếu
theo kiểu giáo điều Marxist, người ta có lẽ nên thông cảm (nhưng không phải tán thành) với thái độ nhịn nhục, chịu
đựng của nhiều giám mục, linh mục đối với những chén ép, áp bức tự do tôn giáo của đảng: các vị thành thật tin
rằng thái độ đó đem đến cơ hội, điều kiện tối thiểu để giải quyết những nhu cầu mục vụ bức thiết của Giáo Hội.
14
mục, giám mục ở VN bắt đầu yêu thích nhiều hơn, bằng lòng nhiều hơn đối với những cởi mở,
dễ dãi mà đảng ngày càng tăng đối với nhiều hoạt động tôn giáo của các vị (nhờ “nín thở”,
“ngậm miệng” như thế), và kết quả là các vị hôm nay không còn bao nhiêu sức “đề kháng” của
ngôn sứ nữa, không dám làm bất cứ điều gì, nếu như vì nó mà đảng giảm đi, hay chấm dứt một
vài cởi mở, dễ dãi nào đó. Cho nên, các vị không dám chống lại những tệ nạn luân lý, suy đồi
đạo đức, và những bất công trong xã hội đang gây hại cho đoàn chiên mình, nếu như việc làm đó
đụng chạm đến đảng, tức có thể “quấy rầy”, “làm phiền” đến quyền lực độc tài toàn trị của đảng.
Vì các vị quả thật an phận “nhắm mắt làm ngơ”, để yên cho đảng mặc sức làm đủ chuyện sai trái,
bất công, nên đảng đâu cần phải cấm đoán, hạn chế nhiều hoạt động tôn giáo của các vị. Làm
vậy chẳng có ích lợi nào đáng kể cho quyền lực cai trị của đảng, lại khiến đảng mang tiếng xấu
hơn đối với quốc tế là đàn áp tự do tôn giáo, và mất đi những lợi ích kinh tế đến cả từ trong và
ngoài như được đề cập dưới đây. Chưa hết, nhờ quỷ quái sử dụng những cởi mở, dễ dãi này,
đường lối mới đối xử với Giáo Hội có thể đem đến cho quyền lực cai trị của đảng nhiều ích lợi
còn lớn hơn, đặc biệt khi làm cho bên trong hàng lãnh đạo Giáo Hội xuất hiện một cái nhìn, một
thứ lập trường, “thông cảm”, “thiện cảm” cách nào đó đối với quyền lực của đảng, thậm chí còn
“ủng hộ” đảng trong chừng mực nào đó.
2. Phục Vụ cho Lợi Ích Kinh Tế Phi Pháp của Đảng
Nhờ qua những cởi mở, dễ dãi đang nói đối với nhiều hoạt động tôn giáo của GHCG, đường
lối mới, không chỉ củng cố và gia tăng sự an toàn cho quyền lực cai trị độc tài của ĐCS, mà còn
phần nào giúp cho lợi ích kinh tế phi pháp của đảng. Thật vậy, nhờ những cởi mở, dễ dãi này
đảng đánh lừa được các nước Âu Mỹ là đảng đang đi vào tiến trình dân chủ hóa đất nước, xã hội,
và nhờ “đóng kịch” thành công như vậy mà đảng nhận được nhiều lợi ích kinh tế từ việc buôn
bán, giao dịch với các nước đó. Ngoài ra, đảng còn có được nhiều lợi ích kinh tế trực tiếp đến từ
những hoạt động tôn giáo của Giáo Hội được đảng cởi mở, dễ dãi, nhất là hoạt động bác ái cứu
trợ tầm mức lớn và hoạt động xây cất và điều hành các cơ sở vật chất to lớn.
Ít nữa có hai thứ lợi ích mà đảng có được từ hoạt động xây cất và điều hành các cơ sở vật
chất to lớn của Giáo Hội. Thứ nhất, các lãnh đạo Giáo Hội thay thế đảng giải quyết công ăn việc
làm cho nhiều người dân qua công việc xây dựng và điều hành các cở sở đó. Thứ hai, các lãnh
đạo Giáo Hội giúp làm giàu thêm cho đảng: bằng việc phải hối lộ đảng cách nào đó 28 (thì các
giấy phép và hợp đồng xây dựng, điều hành mới có được, mới làm được), và bằng việc phải để
cho các đảng viên hay gia đình, người thân của họ thầu, làm chủ nhiều dịch vụ như giữ xe, tiệm
ăn, khách sạn vv… tại một số cơ sở vật chất to lớn là các trung tâm hành hương như La Vang, Tà
Pao, Núi Cúi vv…
Còn đối với hoạt động bác ái xã hội của Giáo Hội, thì lợi ích thứ nhất mà đảng có được đó là
con cái Giáo Hội, cùng với nhiều tổ chức bác ái từ thiện khác trong và ngoài nước, gần như thay
thế đảng lo cho đám dân đông đảo nghèo túng, bệnh tật không có điều kiện chăm sóc, chữa trị.
Điều mỉa mai là đa phần công việc giúp đỡ, lo lắng cho dân nghèo đáng lý phải do đảng làm,
không chỉ vì đảng nắm nhà nước, mà còn vì họ chính là “giai cấp vô sản” hiện nay trong xã hội.
Chăm lo cho cái “giai cấp vô sản” này đáng lý phải là bổn phận hàng đầu của đảng, vì đảng vẫn
————————————————————————————————————————–
28 Trong đại đa số trường hợp là cách gián tiếp, trung gian, tức có một tác nhân thứ ba làm thay (thường là chính
công ty thầu việc xây dựng cơ sở vật chất cho Giáo Hội).
15
luôn bô bô khoe: nào là mình phát xuất từ giai cấp vô sản, là “bộ phận tiên phong” của giai cấp
đó, nào là mình có sứ mạng cao cả phải giải phóng giai cấp vô sản khỏi mọi hình thức đàn áp,
bóc lột vv… Càng mỉa mai hơn tình trạng nghèo túng của “giai cấp vô sản” hiện nay trong nước
là hậu quả, nếu không phải hoàn toàn, thì cũng chính yếu do sự cai trị, đàn áp, bóc lột của đảng,
“giai cấp tư bản đỏ”. Đó là lý do tại sao “băng bó”, “xoa dịu” các vết thương của những bất công
xã hội thì đảng sẵn sàng cởi mở, dễ dãi để cho làm, nhưng lên tiếng vạch trần, phê phán, phản
đối cái nguyên nhân sau cùng và trên hết gây ra các vết thương đó, đòi hỏi nó phải chấm dứt, thì
đảng tuyệt đối cấm; chữa qua loa, tạm thời thì được “tự do” làm, nhưng đòi hỏi trị tận căn thì
tuyệt đối bị ngăn cấm. Không biết các giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân Công Giáo có nhận
thức được rằng khi họ hồ hỡi, sốt sắng thay đảng làm các công việc bác ái từ thiện, xoa dịu tạm
thời, băng bó trên bề mặt các vết thương của những bất công xã hội, nhưng lại không dám lên
tiếng nói ngôn sứ phê phán và đòi hỏi đảng phải chấm dứt gây ra các vết thương đó, thì các tín
hữu Công Giáo này gián tiếp, dù vô tình, đang tiếp tay cho đảng tiếp tục gây ra chúng. 29 Những
gì vừa nói trên về lợi ích thứ nhất cũng đủ cho thấy đảng khốn nạn như thế nào, nhưng xem ra lợi
ích thứ hai đảng kiếm được còn tồi tệ hơn: đó để được đảng cởi mở, dễ dãi để cho con cái Giáo
Hội làm những việc bác ái, từ thiện đang nói, nhất là những cuộc cứu trợ lớn, thì họ phải chạy
chọt, đút lót cho đảng, phải để cho đảng ăn chặn một phần lớn tiền/đồ cứu trợ (nhất là thuốc men
từ ngoại quốc đem vào). Lòng tham vô đáy của đảng đúng là khốn nạn thật: đảng là thủ phạm
gây ra những nạn nhân nghèo túng, bị bệnh tật không có điều kiện chữa trị, chăm sóc trong xã
hội, vậy mà đảng, chẳng những không hề lo cho họ và tiếp tục tạo thêm nạn nhân, mà còn vô
liêm sỉ đến độ đòi hối lộ hay ăn chặn tiền/đồ của việc cứu trợ, giúp đỡ những nạn nhân đó.
B. Về Phía Lãnh Đạo GHCG: Tiếng Nói Ngôn Sứ bị Thỏa Hiệp, Suy Yếu, và Phản Bội
để Đổi Lấy Những Cởi Mở, Dễ Dãi
Về phía lãnh đạo GHCG, lý do của những cởi mở, dễ dãi đối với nhiều hoạt động tôn giáo
là gì? Nói đến lãnh đạo Giáo Hội ở đây, bài nhận định này đương nhiên giới hạn vào các giám
mục, linh mục, tu sĩ trực tiếp thuộc về cơ cấu Giáo Hội địa phương, tức tại VN. Dầu vậy, vẫn
không thể không nói vắn tắt về vai trò của những vị lãnh đạo Giáo Hội hoàn vũ tại Vatican bởi vì
nhờ sự vâng lời trong cơ cấu phẩm trật Giáo Hội, vai trò này thường ảnh hưởng lớn đến lập
trường và cách thức các giám mục, linh mục, tu sĩ tại VN ứng xử với ĐCS.
1. Chính Sách Ostpolitik của Vatican và Tiếng Nói Ngôn Sứ của GHCG tại VN
Các ĐCS, trong quá khứ cũng như hiện nay, đương nhiên biết rõ Vatican có ảnh hưởng
rất lớn đến lập trường và cách thức hàng giáo phẩm Công Giáo tại địa phương ứng xử với đảng,
nên đảng phải làm việc với Vatican thế nào, phải tác động trên bộ phận lãnh đạo Giáo Hội hoàn
vũ này thế nào luôn là một phần thiết yếu của đường lối, chiến lược đối xử với Giáo Hội tại địa
phương (tại đất nước mà đảng đang cai trị): cái phần này bắt buộc phải phối hợp cách ăn nhập
—————————————————————————————————————————————
29 Với lòng tham không đáy, đảng cứ tha hồ đàn áp, bóc lột nhân dân, cứ tiếp tục tạo ra các nạn nhân của những bất
công xã hội, ngày càng nhiều và càng nặng. Đảng không có gì phải lo lắng cả bởi vì một đàng các nạn nhân mà đảng
tạo ra bao giờ cũng có người khác lo, kể cả nhiều giám mục, linh mục, và đàng khác các vị có ảnh hưởng tinh thần
trong xã hội đó lại “ngoan ngoãn”, chẳng dám đụng chạm gì đến đảng cả khi vì lợi ích phi pháp đàng vẫn cần phải
tiếp tục tạo các nạn nhân như thế.
16
với những phần khác để đạt hiệu quả như đảng mong muốn. Không bao lâu sau Đệ Nhị Thế
Chiến, các ĐCS của khối cộng sản Varsovie (Warsaw Pact Bloc), dưới sự lãnh đạo của ĐCS
Nga, đã thành công trong việc làm cho nhiều lãnh đạo Giáo Hội ở Vatican tin là chúng có khả
năng quyết định sự sống còn của các Giáo Hội địa phương ở Đông Âu, nên mặc nhiên thừa nhận
chúng là đối tác hoàn toàn ở thế chủ động, thượng phong, nên nếu có quan hệ nào có thể diễn ra
giữa đôi bên thì chính Vatican cần có quan hệ với chúng, chứ chúng không cần có quan hệ với
Vatican. Hậu quả là một thứ đường lối ngoại giao với các nước cộng sản đã được thành hình từ
phía các vị lãnh đạo này ở Vatican, đó là chính sách Ostpolitik, một thứ đường lối quá mềm dẽo
và dễ dàng thỏa hiệp với những kẻ thù của GHCG. 30
Nói rõ hơn, thì chính sách Ostpolitik nói chung: (1) phân tích và phán đoán thực tại chính
trị xã hội theo kinh nghiệm khôn ngoan người phàm hơn là trong ánh sáng đức Tin vào Thiên
Chúa Quan Phòng của Kinh Thánh Do Thái-Kitô giáo; (2) hoài nghi trong thực tế sức mạnh siêu
nhiên của ơn sủng hoạt động qua con đường thập giá, bao gồm cả cấm cách, bách hại, và do đó
gần như không cho phép sức mạnh ơn sủng như thế có chỗ đứng quan trọng nào trong đường lối
đang nói, cũng như trong các quyết định cụ thể, thực tế, áp dụng nó; (3) coi trọng những thành
quả “tăng triển” thấy được cách công khai, xác thực được bằng số lượng, nhất là đối với việc xây
dựng và duy trì một cơ cấu lãnh đạo Giáo Hội địa phương được nhà nước cộng sản công nhận,
hơn là giúp duy trì và phát triển đời sống chứng nhân thánh thiện, can đảm của các tín hữu Công
Giáo (nhất là nơi các giám mục, linh mục, tu sĩ), thường âm thầm, kín đáo trong một nước cộng
sản (nếu không phải là ẩn giấu trong nhiều trường hợp) vv… (4) xem việc thiết lập được quan hệ
bang giao giữa Vatican và một nhà nước cộng sản như là một mục tiêu quan trọng hàng đầu, mà
càng đạt được nó thì càng thuận tiện trong việc giải quyết mọi khúc mắc, lấn cấn, mâu thuẫn
giữa Giáo Hội và đảng.
Dĩ nhiên, như bằng chứng lịch sử cho thấy không thiếu trường hợp chính sách Ostpolitik
của Vatican bị các ĐCS đánh lừa trong việc phân tích, phán đoán thực tại chính trị, xã hội, cũng
như trong việc đánh giá hiệu quả của quan hệ bang giao như vừa nêu ra. Người ta không nên
ngạc nhiên về sự thật này. Ngay cả những chính quyền dân chủ hùng mạnh như Mỹ và nhiều
nước Tây Âu trỗi vượt về vũ khí so với các nhà nước cộng sản, nắm kinh tế thế giới (để có thể
gây áp lực trên chúng), và có đủ thứ phương tiện thông tin, tình báo, mà còn bị các ĐCS đánh
lừa không ít, đến nỗi có trường hợp hóa ra gián tiếp giúp chúng đàn áp, bóc lột thêm các nạn
nhân trong các nước mà chúng cai trị. Vậy Vatican có bị các ĐCS đánh lừa, và quả thật từng bị
đánh lừa nhiều vố đau, thì điều đó cũng chẳng có gì lạ.
Mặc dầu có đủ khiếm khuyết và sai lầm, chính sách Ostpolitik từ khi thành hình đã nghiễm
nhiên trở thành đường lối chính yếu, thậm chí nhiều lúc độc tôn, hướng dẫn mọi quan hệ của
Vatican với các nước cộng sản. Vai trò này của Ostpolitik dễ thấy rõ ràng dưới thời đức giáo
—————————————————————————————————————————–
30 Tuy nhiều lúc được gọi là đường lối ngoại giao của “Tòa Thánh” đối với một nhà nước cộng sản, Ostpolitik thật ra
chỉ là chính sách của bộ phận ngoại giao thuộc phủ Quốc Vụ Khanh Vatican hay Văn Phòng Thư Ký của Đức Giáo
Hoàng. Chính sách ngoại giao này, chẳng những không xuất phát từ lãnh vực đức Tin và luân lý, mà còn chẳng có
nền tảng rõ ràng, chắc chắn nào trong bộ Giáo Luật. Đáng lý chính sách Ostpolitik cần phải được thánh bộ Giáo Lý
Đức Tin xét duyệt và quyết định chấp thuận hay không. Đáng tiếc là với sự thay đổi cơ cấu Giáo Triều của đức
Phaolô VI, phủ Quốc Vụ Khanh là tổ chức có quyền hành cao nhất trong Giáo Triều, nên khi phủ này làm những
việc không đúng, không phù hợp với đức Tin, luân lý, phụng tự, và thực tại của các giáo hội tại các xứ truyền giáo,
như nhiều trường hợp thực hành chính sách Ostpolitik, thì ngoại trừ Đức Giáo Hoàng, chẳng vị lãnh đạo nào ở
Vatican có quyền xét xử, ngăn cản, kỷ luật chúng.
17
hoàng Phaolo VI. Vai trò này giảm sút dưới thời thánh giáo hoàng Gioan-Phaolo II, vì trong
nhiều trường hợp quan trọng, dựa theo lập trường đức Tin của một vị thánh và kinh nghiệm từng
sống trong một nước cộng sản từ lúc còn là chủng sinh cho đến khi trở thành giáo hoàng, ngài đã
quyết định đúng đắn không theo hay thậm chí đi ngược lại với chính sách này, và nhờ vậy không
chỉ trực tiếp đem đến nhiều ích lợi thiêng liêng cho các Giáo Hội địa phương tại các nước cộng
sản mà còn gián tiếp giúp dẫn đến sự sụp đổ của khối cộng sản Varsovie. Dưới thời đức giáo
hoàng Bênêđictô XVI, vị giáo hoàng thần học gia nhân hậu, Ostpolitik lấy lại vai trò lãnh đạo
của nó, nhưng ngài vẫn cấm nó vượt quá một số giới hạn mà các nguyên tắc đức Tin và luân lý
đặt ra, ví dụ như trong trường hợp quan hệ với nhà nước cộng sản Trung Quốc. Đến thời đức
Phanxico, một giáo hoàng nghiêng theo chủ nghĩa tương đối và duy tân, lại có lập trường khá
thiên tả, khá thiện cảm với các nước cộng sản, thì chẳng những mọi rào cản tối thiểu mà các giáo
hoàng tiền nhiệm đặt ra cho Ostpolitik đều bị đạp đổ, mà ngài còn đẩy chính sách này đi quá cả
những dè dặt, thận trọng tối thiểu của bộ ngoại giao Vatican. Điển hình và khét tiếng nhất là
những nhượng bộ quá lớn, hoàn toàn phi lý, gần như bắt ép mọi tín hữu Công Giáo trung thành ở
Trung Quốc, giáo sĩ cũng như giáo dân, đầu hàng đối với ĐCS độc tài toàn trị của Tập Cận Bình,
tức thừa nhận nó có quyền tối cao trên tổ chức và hoạt động của Giáo Hội địa phương. Tại sao
đức Phanxico lại làm vậy? Thật là không hiểu được, trừ phi là có những bí mật chưa khám phá
trong quan hệ riêng giữa ngài và cái đảng tàn ác này.
Với đường lối Ostpolitik như vừa toát lược trên, nhất là dưới thời đức Phanxico, thì chẳng
có gì khó hiểu tại sao tương quan của những vị lãnh đạo Giáo Hội ở Vatican hiện nay với
ĐCSVN trong căn bản không ra ngoài quỹ đạo đã được đảng tính toán, sắp xếp. Đảng chứng tỏ
có khả năng lèo lái được chính sách Ostpolitik của Vatican, để đường lối này phục vụ thuận lợi
cho quyền lực độc tài toàn trị và những lợi ích kinh tế phi pháp của đảng. Đặc biệt, đảng thành
công lôi kéo lãnh đạo Giáo Hội ở Vatican chủ trương Ospolitik đi đến chỗ: chẳng những coi
thường, hạ giá tiếng nói ngôn sứ của Giáo Hội tại VN trước những tệ nạn, suy đồi, và những bất
công trong xã hội, mà nhất là còn ép tiếng nói đó im lặng và sẵn sàng hy sinh nó để đánh đổi
nhiều thêm những cởi mở, dễ dãi của đảng đối với những hoạt động tôn giáo khác như đã nêu
trên. Cái lập trường yếu hèn này của những vị lãnh đạo Giáo Hội ở Vatican ngây ngô tin rằng để
được đảng tiếp tục cởi mở, dễ dãi đối với những hoạt động được xem là “trọng yếu” cho việc
duy trì và phát triển cơ cấu, tổ chức Giáo Hội tại VN, thì về phía GHCG nên tránh tối đa có
những tiếng nói ngôn sứ phê phán, phản đối những sai trái, bất công của đảng. Lên án những
tiếng nói ngôn sứ đó như là sự “đối đầu” (confrontation), chỉ “hại” Giáo Hội, chỉ mang tính “tiêu
cực”, không có tính “xây dựng”, những vị lãnh đạo Vatican này chủ trương sai lầm rằng tốt nhất
Giáo Hội chỉ cần “đối thoại” với đảng, cần học cách “sống chung hòa bình” với đảng, cả hai bên
cần làm sao để nhờ thiện chí và lòng tin tưởng đối với nhau mà tạo ra sự cộng tác tích cực, ngày
một lớn hơn, hữu hiệu hơn, trong những hoạt động được xem là phục vụ “công ích”.
2. Sự Suy Yếu của Tiếng Nói Ngôn Sứ tại VN và Sự Phản Bội Nó
Những phân tích dưới đây cho thấy rõ nguyên nhân, lý do về phía GHCG tại VN khiến cho
ĐCS ngày càng cởi mở, dễ dãi với nhiều hoạt động tôn giáo (thuộc những lãnh vực đã nêu trên)
đó là tiếng nói ngôn sứ của Giáo Hội một hai thập niên qua suy yếu đến mức hầu như biến mất,
bị phản bội và thay thế bằng một thứ lập trường đối nghịch.
18
a. Suy Yếu Nghiêm Trọng trong Phản Ứng Chống Lại Những Cái Xấu trong Xã Hội
Tương quan giữa những cởi mở dễ dãi của đảng đối với một số loại hoạt động tôn giáo như
vừa nói trên và tiếng nói ngôn sứ là một thứ tỉ lệ nghịch hai chiều: cái trước tăng lên, mạnh hơn,
thì cái sau giảm xuống, yếu hơn. Những cởi mở, dễ dãi của đảng sớm làm suy yếu dần những
khuynh hướng “bất lợi” cho đảng vốn có trước đây trong Giáo Hội: tức nơi những giám mục,
linh mục nào vốn không chịu được một số sai trái nào đó của đảng, đã dám lên tiếng nói ngôn sứ
phê phán, phản đối chúng, hay tối thiểu nơi những vị, vì hiểu quá rõ về bản chất độc tài và dối trá
của đảng, tỏ ra dị ứng mạnh đối với mọi thứ giao tiếp, qua lại với đảng, tuy không thật sự muốn
“đối đầu” nhưng cũng không muốn “đối thoại”. Đứng trước những cởi mở, dễ dãi của đảng, hầu
hết các vị trẻ hơn, chiếm đa số trong hàng giám mục, linh mục hiện nay, không muốn ứng xử với
đảng giống như các vị tiền nhân, tiền nhiệm của mình. Những giám mục, linh mục ít nhiều có lập
trường ngôn sứ này vốn đã là thiểu số trước đây, thì nay lại càng thiểu số hơn, phần vì qua đời,
phần vì ở tuổi hưu trí theo giáo luật, không còn mấy ảnh hưởng trong Giáo Hội.
Thực tế sau một hai thập niên đó là đại đa số các giám mục, linh mục hiện nay từ khước bổn
phận lên tiếng nói ngôn sứ trước những tệ nạn luân lý, suy đồi đạo đức, và những bất công trong
xã hội. Hầu hết các giám mục trẻ hơn hiện nay ở VN, chiếm đại đa số trong Hội Đồng Giám
Mục (HĐGM), xem ra không muốn có hành động nào công khai làm phật lòng đảng. Không thể
quên một nguyên nhân quan trọng giúp giải thích thực tế đáng buồn này đó là ứng xử yếu hèn,
thỏa hiệp hiện nay của các vị đối với đảng chính là “thành quả” đảng gặt hái được nhờ liên tục
thực hành trong quá khứ các chiến thuật can thiệp vào việc đào tạo linh mục và tuyển chọn giám
mục. 31 Dĩ nhiên mục tiêu chính yếu của các chiến thuật này là loại trừ, ngăn chặn khả năng
những ứng viên có lập trường ngôn sứ được chọn vào những vị trí lãnh đạo quan trọng trong cơ
cấu, tổ chức Giáo Hội (như bề trên phụ tỉnh, giám mục giáo phận, giám mục giáo phận lớn, tổng
giám mục vv…), và ngược lại giúp đỡ tối đa, tạo điều kiện thuận lợi (để có được những vị trí lãnh
đạo như thế) cho những ứng viên mà đảng nắm chắc là yếu hèn, không dám làm gì mất lòng
đảng, hay càng tốt hơn nữa chịu cộng tác với đảng trong một số trường hợp đảng cần. Ngày càng
có nhiều giám mục, linh mục dùng khẩu hiệu “Giáo Hội đối thoại chứ không đối đầu” để che
đậy, biện minh cho chọn lựa từ khước lên tiếng ngôn sứ. Cái khẩu hiệu này nghe rất kiêu nhưng
thực chất là dị nghĩa hay vô nghĩa. Thật vậy, đa số các vị, nếu chưa mất hết thì cũng suy yếu về
sức “đề kháng” đối với những cái xấu như thế trong xã hội, vậy thì các vị có bao nhiêu sức mà
—————————————————————————————————————————–
31 Các chiến thuật can thiệp này của đảng vào việc đào tạo linh mục và tuyển chọn giám mục (thường qua lực lượng
an ninh hay công an tôn giáo và ban tôn giáo) đương nhiên bao gồm cả những thủ đoạn như tìm cách có được bằng
chứng về những khuyết điểm hay vấp phạm đạo đức của các ứng viên (linh mục, nhất là giám mục), có khi còn bẩn
thỉu dàn dựng, bịa đặt, vu khống ra những cái đó, tìm cách áp lực các ứng viên chính thức cam kết làm việc cho
đảng nhất là dùng việc “nắm tẩy” vừa nói vv… Dù sao để đạt hiệu quả tối đa, các chiến thuật can thiệp này thường
được phối hợp nhịp nhàng với nhau và với những cởi mở, dễ dãi đang nói của đảng. Thật ra, nhìn từ bên ngoài
người ta cũng thấy phần nào tính phức tạp và đa dạng của việc sử dụng các chiến thuật can thiệp này: có lúc làm nổi
cho thấy, có lúc làm ngầm không thấy dượd; lúc thì mạnh tay đối với một chủng sinh, một linh mục ứng viên, lúc thì
nhẹ tay; có lúc gây khó khăn cách công khai, chính thức, có lúc đe dọa cách bí mật, không chính thức vv… Nếu ngày
hôm nay đảng có cởi mở, dễ dàng hơn đối với hoạt động tuyển chọn, bổ nhiệm các chức sắc lãnh đạo cao cấp trong
Giáo Hội như giám mục, và do đó giảm nhẹ, bớt đi việc sử dụng các chiến thuật can thiệp đang nói, thì lý do về phía
Giáo Hội chính là thực tế đáng buồn đang nói: tức hầu hết các ứng viên đều suy yếu về lập trường ngôn sứ, gần như
ứng viên nào được chọn vào chức vụ lãnh đạo Giáo Hội cũng đều đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu của đảng: không
muốn lên tiếng nói ngôn sứ làm mất lòng đảng.
19
đối kháng, đối đầu. Đàng khác, sự kiện đa số các giám mục không có khả năng đối đầu không có
nghĩa là Giáo Hội không đối đầu bằng bất cứ cách nào, vì Giáo Hội không thể đồng hóa với các
vị.
Dĩ nhiên dù sự can thiệp của ĐCS vào việc đào tạo linh mục và tuyển chọn giám mục có khả
năng gạn lọc kỹ lưỡng đến đâu, vẫn không có bảo đảm tuyệt đối. Một giám mục vẫn luôn có tự
do để thay đổi, kể cả thay đổi sức đề kháng yếu ớt của mình đối với những cái xấu trong xã hội,
để chọn lựa có những hành động mạnh dạng, can đảm của một ngôn sứ. Nên để hiểu rõ hơn tại
sao có sự suy yếu nghiêm trọng về tiếng nói ngôn sứ nơi đại đa số các giám mục hiện nay vẫn
phải trở lại với những cởi mở, dễ dãi của đảng đối với nhiều hoạt động của Giáo Hội, vẫn cần
khai triển thêm một số điểm dưới đây về việc chúng làm suy yếu tiếng nói ngôn sứ như thế nào.
Sau một thời gian dài trong quá khứ khi mà hầu hết các hoạt động tôn giáo của Giáo Hội bị
cấm cản hay hạn chế tối đa, nhiều con cái Giáo Hội từ từ “quên” rằng những hoạt động đó hoàn
toàn thuộc quyền tự do tôn giáo chính đáng của mình. Thế rồi, từ mấy chục năm trở lại, khi
nhiều hoạt động tôn giáo được đảng “cho” phục hồi, “cho” thực hành và phát triển dễ dàng,
nhiều giám mục, linh mục khó sa vào cám dỗ cho rằng Giáo Hội được như vậy là “hồng phúc”
lắm rồi, là quá “tốt lành”, nên phải biết gìn giữ và phát triển tình trạng “phúc lành” đó. Do đó,
đại đa số các giám mục, linh mục hôm nay chủ trương phải tránh mọi cái làm “mất lòng” đảng,
ảnh hưởng xấu đến tình trạng “phúc lành” đang có được.
Để duy trì và phát triển tình trạng “tốt lành” này, đa số các giám mục, linh mục không e ngại
chấp nhận một số bất công xã hội mà đảng đang gây ra cho một số con cái Giáo Hội ở địa
phương này, địa phương kia, như việc cướp đất của đan viện Biển Đức Thiên An và phá hoại đời
sống tu hành của các đan sĩ, tác hại của nhà máy Formosa trên đời sống kinh tế của một số giáo
xứ ven biển, đặc biệt thuộc hai giáo phận Vinh và Hà Tỉnh, việc cướp đất của cả trăm giáo dân
Lộc Hưng vv… Những bất công xã hội như những trường hợp vừa nêu xem ra theo phán đoán
của các vị giám mục, linh mục đang nói là quá nhỏ so với những “hồng phúc”, “tốt lành” mà
Giáo Hội đang “hưởng” được nhờ những cởi mở, dễ dãi ngày càng tăng về phía đảng. Do vậy,
các vị chủ trương không được phản đối, phê phán đảng ngay cả trong những trường hợp đó.
Lên tiếng nói ngôn sứ về những bất công xã hội thì cho là trực tiếp “đối đầu” với đảng, nên
đa số các giám mục, linh mục từ chối không làm, sau khi tính toán “hơn thiệt” về những cởi mở,
dễ dãi đảng đang cho như vừa nói trên. Vậy thì đâu là lý do các vị đưa ra khi các vị cũng tránh
né, không muốn lên tiếng nói ngôn sứ đối với những tệ nạn, suy thoái trong xã hội như phá thai,
hút xách, nghiện ngập? Làm sao biện minh cho chọn lựa tránh né, im lặng, trong khi một mặt,
tầm mức nguy hại to lớn, xấu xa nghiêm trọng của những tệ nạn, suy thoái này đối với đời sống
đạo đức, luân lý của nhiều con chiên mình là sự kiện các vị không thể phủ nhận; và mặt khác,
việc lên tiếng về chúng không nhất thiết đụng chạm đến đảng cách trực tiếp, không tới cùng mức
độ như lên tiếng về những sai trái, bất công trong xã hội. Ở Mỹ, hàng năm, đa số các giám mục,
linh mục công khai và mạnh mẽ kêu gọi, khích lệ các tín hữu tham dự cuộc diễn hành toàn quốc
(cả mấy chục ngàn người) phò sự sống của các thai nhi ngay tại thủ đô Washington, và nhiều vị
còn đích thân tham dự để làm gương. Ở VN, khó có thể nghĩ các giám mục, linh mục sẽ kêu gọi
các tín hữu có một cuộc diễn hành phò sự sống, chống phá thai, dù chỉ vài ngàn người tham dự,
bao lâu mà ĐCS vẫn còn nắm độc quyền cai trị. Nhưng với tỉ lệ phá thai ở VN (và các nước cộng
sản khác) vượt xa Mỹ, mà từ phía hàng giám mục không có ngay cả một lời khuyến dụ nhà nước
20
phải làm sao để tệ nạn sát hại các thai nhi ít nữa được giảm bớt, thì đúng là tiếng nói ngôn sứ
chống lại những cái xấu trong xã hội đã quá suy yếu nơi các vị. Thực tế thật ra còn đáng buồn
hơn: chẳng những không dám trực tiếp phê phán đảng về trách nhiệm đối với việc phá thai và
những tệ nạn luân lý, suy đồi đạo đức khác trong xã hội, mà ngay cả chỉ lên tiếng trên toà giảng,
răn dạy giáo dân và đánh thức lương tâm họ chống lại tội ác này, làm cho nó giảm xuống, nhiều
giám mục, linh mục ở VN cũng tránh né, cho đó là chuyện nhạy cảm, vì đụng chạm chính sách
dân số của đảng.
Trường hợp Nhận định suy nghĩ của HĐGM về luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016
Khi nói đa số các giám mục, linh mục hiện nay, vì những cởi mở, dễ dãi được đảng “ban
cho”, không muốn theo các vị tiền nhân, tiền nhiệm có bất kỳ phản ứng ngôn sứ nào kẻo làm
phật lòng đảng, thì nhận xét này đương nhiên phải giả thiết một “thiểu số” vẫn còn ý thức về bổn
phận ngôn sứ trong xã hội của mình. Quả thật từng xảy ra trong một hai thập niên qua, HĐGM,
khi còn dưới sự lãnh đạo của một số giám mục như đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh, Phêrô
Nguyễn Văn Khảm, và Cosma Hoàng Văn Đạt, đã một vài lần có những phê phán thẳng thắn về
chính sách tôn giáo của đảng. Điển hình nhất là Nhận định suy nghĩ về luật tín ngưỡng, tôn giáo
2016, được HĐGM gửi cho quốc hội của đảng và phổ biến cho mọi thành phần dân Chúa vào
ngày 1 tháng 6 năm 2017. Tuy vậy, ảnh hưởng của thiểu số giám mục ít nhiều có lập trường ngôn
sứ trên đại đa số không có lập trường ngày càng yếu đi, đến nỗi hiện nay xem như biến mất. Quả
thật, một tiếng nói ngôn sứ như văn kiện Nhận định suy nghĩ chưa bao giờ thật sự trở thành một
thứ hướng dẫn nhất quán, xuyên suốt, liên tục cho những xử sự của cả tập thể HĐGM đối với
đảng. 32 Và đương nhiên nó lại càng không có ảnh hưởng gì mấy trên cá nhân mỗi giám mục
trong việc cai quản giáo phận của mình, nếu vị đó thuộc đa số không muốn lên tiếng nói ngôn sứ,
phê phán đảng. Nói tắt, nếu có một vài trường hợp các giám mục họp chung cả hội đồng, nhờ
thiểu số lãnh đạo còn có lập trường ngôn sứ phần nào, mà “trống” của tập thể các vị “đánh xuôi”,
cùng nhịp với tiếng nói ngôn sứ, dám phê phán đảng về những đối xử sai trái với tôn giáo, thì
“kèn” của cá nhân một giám mục, thuộc đại đa số không có lập trường ngôn sứ, vẫn cứ luôn
“thổi ngược” khi lãnh đạo trong giáo phận mình.
Hành động can đảm khá hiếm hoi dưới danh nghĩa HĐGM vào năm 2017, khi phân tích, hóa
ra lại cho thấy sự suy yếu nghiêm trọng về lập trường ngôn sứ chính là tình trạng chung đang có
nơi đa số các giám mục. Thật giống như người ta thường nói: “sự ngoại trừ chứng minh sự hiện
hữu của quy luật (the exception proves the existence of the rule)”, tức “chứng minh quy luật
trong những trường hợp không phải ngoại trừ (exceptio probat regulam in casibus non exceptis)”
——————————————————————————————————————————————-
32 Thực tế đáng tiếc này chứng minh nhận xét của tôi: đa số các giám mục trong một hai thập niên qua không muốn
làm gì mất lòng đảng. Dĩ nhiên khi thành phần lãnh đạo HĐGM trong nhiệm kỳ nào đó (là những giám mục ít nhiều
có lập trường ngôn sứ hay cảm thông mạnh mẽ với nó) đưa ra những phê phán đúng đắn đối với nhà nước cộng sản
về tự do tôn giáo, thì đa số giám mục đang nói vẫn đành phải biểu quyết ưng thuận theo, vì không ai trong các vị đó
dám công khai phản đối một việc làm hợp lý và đáng ca ngợi như thế, kẻo mang tiếng xấu là “theo nhà nước”.
Nhưng vì bản thân thỏa hiệp, yếu hèn đối với tiếng nói ngôn sứ, nên đa số giám mục này xem ra rất muốn thành
phần lãnh đạo HĐGM được bầu chọn từ các vị, để cả tập thể cũng bị làm im lặng theo, không lên tiếng phê phán
đảng, và như vậy tránh cho các vị “gặp rắc rối” với nó.
21
b. “Thích Nghi” với Những Cái Xấu trong Xã Hội, “Thiện Cảm” với Cái Đảng Gây Ra
Chúng, và Phản Bội Tiếng Nói Ngôn Sứ
Chưa hết, xem ra càng ngày càng có nhiều giám mục, linh mục, từ chỗ mất đi khả năng phẫn
nộ đối với những tệ nạn luân lý, suy đồi đạo đức, và những bất công, sai trái xã hội, rồi kế đến
mất đi cả nỗi băn khoăn, thao thức về ảnh hưởng, hậu quả tác hại của chúng trên đoàn chiên, và
sau cùng đi tới chỗ cảm thấy phần nào dễ chịu, thoải mái trong việc “chung sống hòa bình” với
cái ĐCS gây ra những cái xấu đó, và “thích nghi” với hiện trạng của chúng trong xã hội. Nghĩa
là về phương diện tình cảm và ý muốn, các vị đó xem ra trong lòng không còn cảm thấy bức xúc
hay khó chịu, và do vậy không còn có ý muốn 33 loại trừ những cái xấu đang nói ra khỏi xã hội.
Những tệ hại vừa nói trên đối với tiếng nói ngôn sứ nơi các giám mục, linh mục xem ra vậy
mà vẫn chưa đủ. Đối với một thiểu số các giám mục, linh mục, xem ra vẫn chưa “tốt” đủ trong
quan hệ với đảng sự kiện các vị chủ trương tránh mọi hình thức phê phán, phản đối đảng, nhắm
mắt làm ngơ trước những tệ nạn luân lý, suy đồi đạo đức, và những bất công, sai trái xã hội mà
đảng gây ra, cho đoàn chiên của mình nói riêng và cả dân tộc nói chung. Thật vậy, đứng trước
những cởi mở, dễ dãi ngày càng nhiều của ĐCS đối với những gì vốn tất yếu thuộc nhân quyền
tự do tôn giáo của GHCG tại VN, thì điều tệ hại nhất bắt đầu xảy ra khi thiểu số giám mục, linh
mục này trở nên có “thiện cảm” với đảng, và có “thiện cảm” ngày càng nhiều hơn, không e ngại
công khai bày tỏ “lòng biết ơn”, “tri ơn” đối với đảng trong nhiều dịp lễ hội khác nhau, thay vì
đáng lẽ phải khẳng định rõ ràng là Giáo Hội không hề mắc nợ ơn nghĩa gì đối với đảng trước
những cởi mở, dễ dãi đó. Phải chăng một phần lý do “tri ơn” là các vị giám mục, linh mục này
mê muội đến mức lầm tưởng rằng quan điểm, lập trường của đảng đối với Giáo Hội đang thay
đổi trong căn bản, như thể đảng thật sự có thiện chí giải quyết các “khúc mắc”, “lấn cấn”, “hiểu
lầm”, “nghi kị” giữa hai bên, sẵn sàng đổi mới quan hệ với Giáo Hội theo hướng tích cực, tôn
trọng vô điều kiện đối với nhân quyền tự do tôn giáo của Giáo Hội? Dù thật sự lầm tưởng hay
không, thiểu số các giám mục, linh mục này chủ trương phải giao tiếp thân thiện với đảng, thậm
chí cộng tác với đảng trong một vài lãnh vực và dưới một số hình thức nào đó, cho dù làm vậy là
rõ ràng đối nghịch với lập trường và tiếng nói ngôn sứ của một giám mục, một linh mục trong xã
hội. Cụ thể là có giám mục sốt sắng tham dự tang lễ của một lãnh đạo đảng, ngay cả ký vào sổ
tang với những lời ca tụng ông này cách trơ trẻn. Có giám mục “sốt sắng” kêu gọi giáo sĩ, giáo
dân dưới quyền mình tham dự các cuộc bầu cử các cấp nhà nước, dù biết rõ các cuộc bầu cử
thuần túy hình thức đó thực chất chỉ tiếp tục duy trì và củng cố cơ chế độc tài toàn trị của đảng.
Có vài giám mục, như ở hai giáo phận Vinh và Xuân Lộc, xem ra còn tích cực cho phép nhiều
linh mục tham gia và trở nên thành viên của một số tổ chức, cơ cấu chính trị của đảng như ủy
ban đoàn kết, hội đồng nhân dân, quốc hội, dù việc tham gia này, chẳng những trái ngược với
luật Giáo Hội và trở nên cớ vấp phạm khách quan cho các tín hữu Công Giáo khác, mà rõ ràng
còn làm cho đa số người dân VN (không phải là Kitô hữu) hiểu lầm và khinh thường sứ mạng
ngôn sứ của Giáo Hội, gây chướng ngại khách quan cho việc rao giảng Tin Mừng cho họ. 34
——————————————————————————————————————————————–
33 Cho dù về nhận thức khách quan, nếu hỏi ý kiến trong phạm vi cá nhân, riêng tư, các vị đó đương nhiên không
chấp nhận những tệ nạn và bất công đó. Phần nào cũng giống như nhiều người dân Sài Gòn: người nào mà lại không
biết thành phố này rất ô nhiễm, nếu hỏi ý kiến chắc chắn đều không thích sự ô nhiễm, nhưng đại đa số vẫn sống
thích nghi được, vẫn cứ điềm nhiên sống như thể ô nhiễm không còn là vấn đề nghiêm trọng, bức thiết đáng quan
tâm, giải quyết.
22
Sau cùng, cũng chính thiểu số các giám mục mà hành động xem ra yếu hèn và phản bội này
lại thường ác cảm và đối xử tệ với những tín hữu Công Giáo nào dám lên tiếng nói ngôn sứ phê
phán, phản đối đảng về những tệ nạn, bất công trong xã hội, cho dù các tín hữu đó có là những
linh mục của các vị. Trong khi các vị giám mục này, như vừa nói trên, thường dễ dàng cho phép,
thậm chí có thể khích lệ cách nào đó các linh mục dưới quyền các vị tham gia những tổ chức, cơ
cấu chính trị của đảng, trở nên những thành viên của ủy ban đoàn kết, hội đồng nhân dân, hay
những đại biểu “quốc hội” vừa nêu, thì điều mỉa mai và mâu thuẫn là chính các vị đó lại phê
phán các linh mục lên tiếng nói ngôn sứ là “làm chính trị” và tìm cách bịt miệng các ngài. Để áp
lực các linh mục đó im miệng, có vài vị giám mục còn lạm quyền mà “giáng chức” hay hay
“trừng phạt” các ngài cách nào đó, mặc dầu các ngài không có sai phạm gì theo luật Chúa, luật
Giáo Hội, 35 ví dụ có lẽ điển hình nhất là trường hợp hai linh mục ngôn sứ là cha Nguyễn Duy
Tân thuộc giáo phận Xuân Lộc và cha Đặng Hữu Nam thuộc giáo phận Vinh.
*******
Trong năm qua (2023) có hai biến cố về quan hệ ngoại giao giữa ĐCS với Tòa Thánh
Vatican khiến nhiều tín hữu Công Giáo tại VN hồ hỡi: 1. Đảng chính thức chấp nhận tổng giám
mục Marek Zalewski, sứ thần Tòa Thánh tại Singapore, như là đại diện Toà Thánh thường trú tại
VN. 2. Đảng (qua chủ tịch nước Võ Văn Thưởng) chính thức mời đức giáo hoàng Phanxico qua
thăm VN. Nhưng không thiếu những tín hữu khác tỏ ra dè dặt, thận trọng đối với hai biến cố này,
không muốn có quá nhiều kỳ vọng đối với chúng để khỏi phải thất vọng, bẽ bàng sau này. Nhất
là đối với những tín hữu Công Giáo trung thành nào có hiểu biết khách quan và đầy đủ về chính
sách ngoại giao kiểu Ostpolitik của Vatican, cũng như về con người và việc làm của đức
Phanxico, 36 thì có thể kết luận ngay mà không sợ sai lầm rằng hai biến cố này tự chúng cũng
chẳng đem đến điều gì tốt lành lớn lao và lâu dài cho GHCG tại VN, xét về đời sống đức Tin và
luân lý của các tín hữu nói chung (giáo dân cũng như giáo sĩ), và xét về tương quan ứng xử giữa
Giáo Hội và đảng nói riêng. Dĩ nhiên, kết luận như vậy chỉ là nhận xét từ phía bản tính và hoạt
động của các nhân tố thụ tạo liên quan ở đây thôi, vì về phía Thiên Chúa, Ngài vẫn luôn có thể
tạo ra những điều tốt lành lớn lao và lâu dài cho Giáo Hội từ những sự dữ mà Ngài cho phép xảy
ra, phương chi là từ hai biến cố đang nói, xét trong chính chúng, vẫn chưa phải là những cái xấu
nội tại (intrinsece malum). Nhưng nếu như thực sự xảy ra, những điều tốt lành đó chỉ đến từ hai
biến cố đang nói cách tùy thể thôi (accidentaliter), nhờ sự quan phòng từ bi và toàn năng của
Thiên Chúa. Thật vậy, vì hai biến cố này bao hàm trong chúng hay khó tránh liên hệ đến một số
—————————————————————————————————————————————–
34 Đối với họ các vị lãnh đạo GHCG đáng lý phải là những tiếng nói cho sự thật và công lý, mà phê phán, phản đối
ĐCS về vô số những cái xấu trong xã hội mà đảng gây ra, thì nay một số vị lại không biết xấu hổ, tham gia vào cơ
cấu, tổ chức (ngoại vi) của đảng, cam tâm làm tay sai, bù nhìn cho đảng, dù công việc chính yếu chỉ là về mặt tuyên
truyền, hình thức bề ngoài.
35 Ngoài lý do chính yếu là để tiếp tục và có thêm các cởi mở, dễ dãi đang nói của đảng, cũng có thể còn một số lý
do khác khó biết nhưng giúp giải thích tại sao các giám mục đang nói lạm quyền như thế trong việc đối xử với các
linh mục dưới quyền mà có lập trường và tiếng nói nói ngôn sứ.
36 Bản thân và việc làm của đức Phanxicô không được biết đến nhiều đối với thế giới Công Giáo trước đây, nhưng từ
khi lên làm giáo hoàng, tham vọng và việc theo đuổi kế hoạch cách mạng Giáo Hội, thay đổi cách triệt để theo ý
thức hệ cá nhân của ngài, bắt đầu bộc lộ ngày càng mạnh hơn và rõ ràng hơn. Đến hôm nay ai theo dõi tin tức về
Vatican cách đầy đủ và khách quan đều không thể phủ nhận thực tế rất nguy hại này, một thực tế đang hủy hoại đức
Tin và luân lý Công Giáo của nhiều Kitô hữu, ít nữa trong một số lãnh vực.
23
yếu tố mang tích yếu hèn, thỏa hiệp, khiếm khuyết về mặt luân lý, thậm chí đối nghịch với sự
thánh thiêng của Tin Mừng, nên chúng khó có thể là nguyên nhân đệ nhị thích hợp ở đây được.
Nếu chỉ xét theo tương quan ứng xử giữa GHCG tại VN và ĐCS, có một tiêu chuẩn khách quan,
đáng tin tưởng, và hữu hiệu để nhận biết hai biến cố ngoại giao nói trên có thật sự đem đến cho
Giáo Hội điều gì tốt lành lớn lao và lâu dài không. Tiêu chuẩn đó là một khi hai biến cố này xảy
ra rồi, thì ba loại hoạt động tôn giáo, thuộc về chính bản tính và sứ mạng của Giáo Hội như đã
nói trước đây, 37 có còn bị đảng cấm cản tuyệt đối hay hạn chế tối đa nữa hay không.
Các tín hữu Công Giáo cần cầu nguyện xin Thiên Chúa can thiệp làm cho ĐCSVN từ bỏ cơ
chế độc tài đảng trị, và tới lúc đó mới có những thay đổi triệt để trong cách đảng đối xử với các
hoạt động của GHCG. Trong thời gian chờ đợi những thay đổi đó, các tín hữu Công Giáo vẫn
cần thận trọng nhớ rằng những phát triển hay suy giảm về những hoạt động và cơ sở của một tôn
giáo, được dễ dàng nhận thấy bên ngoài, vẫn không nhất thiết đánh giá đúng đắn tính thịnh suy
thật sự của tôn giáo đó, nhất là khi những phát triển hay suy giảm này lệ thuộc đáng kể vào
những chính sách, đường lối đối xử của một nhà nước mà mục tiêu nhắm đến là những lợi ích,
tuy chính chúng không nhất thiết đối nghịch, loại trừ, nhưng vẫn không thật sự thuộc về yếu tính
và sứ mạng đích thật của tôn giáo đang nói.
Nhận xét này được lịch sử VN trong quá khứ minh chứng: sự phồn thịnh thấy rõ bên ngoài
của Phật Giáo (PG) thời nhà Lý cũng đã bao hàm trong nó nhiều yếu tố suy thoái, không phù hợp
với Phật pháp, bằng không thì PG đã chẳng cần đến những canh tân sau đó của các vua nhà Trần
theo thiền tông như Thánh Tông và Nhân Tông. Vậy thì nhận xét đang nói lại càng đúng hơn ở
VN trong hiện tại, khi những phát triển dễ dàng nhận thấy bên ngoài của một tôn giáo lệ thuộc
nhiều vào chính sách, đường lối đối xử của nhà nước ĐCS mà mục tiêu thật sự nhắm đến là “sử
dụng các tổ chức tôn giáo như công cụ của chế độ”, như bị vạch trần trong bản Nhận định suy
nghĩ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm 2017 về luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016. Ai sống ở
VN mà lại không thấy những “phát triển” “phồn vinh” bên ngoài và ngày càng nhiều của PG
trong khoảng bốn thập niên qua, nhờ nhận được từ đảng rất nhiều cởi mở, dễ dãi, ngay cả “hổ
trợ” đến mức “ưu đãi”. Dĩ nhiên, đảng đối xử với PG “tốt” như vậy chỉ sau khi đảng thành công
“thống nhất” PG vào thập niên 80, biến cơ cấu, tổ chức của tôn giáo này thành một phần trong hệ
thống nhà nước dưới độc quyền lãnh đạo của đảng. 38 Nhưng bên dưới và đàng sau những thứ
“phát triển”, “phồn vinh” “ồn ào” bên ngoài đó, những Phật tử đích thật và tỉnh táo nhận ra được
gì, nếu không phải là những suy thoái nghiêm trọng, những khủng hoảng lan rộng xét về việc
thực hành Phật pháp trong đời sống, đặc biệt của giới tăng ni? Thực tại bi thương này của PG tại
VN nên là một bài học nhắc nhở và cảnh giác cho các tín hữu Công Giáo, nhất là các giám mục,
linh mục, làm sao đừng để mình bị đánh lừa bởi những “cởi mở”, “dễ dãi” của đảng mà đi vào
“vết xe đã đổ” của PG. Dĩ nhiên, đảng không áp dụng những cách thức hoàn toàn như nhau cho
cả Công Giáo và PG, vì thể hiện chính xác của mục đích chung đã nói trên cùng 39 không giống
nhau cho cả hai tôn giáo. Thể hiện của mục đích chung đó không phải biến Công Giáo thành một
————————————————————————————————————————————–
37 Tức là ba hoạt động: lên tiếng nói ngôn sứ trong xã hội, giáo dục giới học sinh, sinh viên, và trí thức (mở trường
từ tiểu học đến đại học và các trung tâm nghiên cứu), và truyền giáo ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Xem lại Phần I
của bài nhận định này.
38 Hay nói chính xác hơn chỉ sau khi ĐCS chính thức áp đặt quyết định giải thể Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất, coi
là bất hợp pháp sự hiện hữu và hoạt động độc lập của cả một tổ chức tôn giáo có từ thời Pháp thuộc.
39 Xem lại đoạn dẫn nhập đầu bài nhận định này.
24
thứ “công cụ” chính thức hay bán chính thức của đảng theo pháp lý (như trường hợp PG) – là
điều đảng rất muốn làm nhưng không làm nỗi – nhưng là hình thành một kiểu “quản lý” Công
Giáo, tuy không có gì chính thức, không theo hình thức pháp lý nào, nhưng vẫn có hữu hiệu
trong thực tế, tối thiểu bảo đảm không có hoạt động nào về phía GHCG gây bất lợi cho quyền
lực chính trị bất chính và lợi ích kinh tế phi pháp của đảng.
Chính thật ra, nhận xét đang nói ở trên đặc biệt đúng cho GHCG hơn cho bất kỳ tôn giáo nào
khác, tại VN cũng như ở mọi nơi khác. Sứ mạng mục vụ trên hết và vô điều kiện mà GHCG thi
hành là phải chăm sóc thế nào để các Kitô hữu ở mọi nơi và mọi thời luôn là “những người thờ
phượng đích thực” tức sẽ luôn “thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật” (Ga 4,23) theo
lời dạy của Chúa Giêsu, Đấng Sáng Lập. Một khi trung kiên thi hành được sứ mạng mục vụ này,
Giáo Hội luôn bình an phó thác cho Thiên Chúa Quan Phòng mọi lo lắng, ưu tư về những cái
thịnh suy tôn giáo chỉ đánh giá được trên phương diện hữu hình. Chẳng những thế, Giáo Hội còn
vững lòng trông cậy với không thiếu với cả niềm vui, khi bị cấm cản, bách hại ở nước này, nước
nọ, khiến cho những hoạt động và cơ sở của Giáo Hội, vốn dễ nhận thấy bên ngoài, bị suy giảm,
phải ẩn giấu, hay biến mất. GHCG có thể vững lòng trông cậy và an vui như thế, bởi vì tin tưởng
chắc chắn rằng trong cuộc lữ hành trần thế Giáo Hội không có con đường phát triển, hưng thịnh
đích thật nào khác, ngoài con đường thập giá của Chúa Giêsu Kitô, Đấng “phải chịu đau khổ như
thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người” (Lc 24,26): “Phúc cho các con khi vì Ta mà bị
người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Các con hãy vui mừng hớn hở, vì phần
thưởng dành cho các con ở trên trời thật lớn lao” (Mt 5,11-12).
Tính chân lý của xác tín đức Tin vừa nói trên chắn chắn sẽ được hiển lộ cho mọi xác phàm,
được bày tỏ cách hoàn hảo trong ánh sáng khi Chúa Giêsu quang lâm, hoàn tất việc thiết lập và
phát triển Nước Thiên Chúa, và tuyên công, ân thưởng hạnh phúc vinh quang của Nước đó cho
những ai trung tín với Ngài. Nhưng trước đó, tính chân lý này cũng đã được minh chứng cách
hào hùng qua lịch sử tuẫn đạo trên 2000 năm của GHCG, như lời linh mục Tertullianus (160-
250), văn hào Công Giáo nổi tiếng của thời tuẫn đạo: “Các người tàn sát chúng tôi thường xuyên
bao nhiêu, thì chúng tôi được làm cho sinh ra nhiều hơn bấy nhiêu: máu của các Kitô hữu chính
là hạt giống (Plures efficimur, quotiens metimur a vobis: semen est sanguis Christianorum)”
(Apologeticus, L.13).
Giáo Xứ Công Giáo Mẹ Việt Nam,
Silver Spring, Maryland, USA
Mùa Chay Thánh Năm 2024
