(CHUYỆN TÌNH HỌC TRÒ KÝ ỨC 50 NĂM )
Tôi sinh ra khi Sài Gòn đang ở độ rực rỡ nhất của danh xưng “Hòn ngọc Viễn Đông”. Ký ức tuổi thơ tôi là những buổi chiều ngồi sau chiếc xe Mobilette của ba, thong dong qua những đại lộ thênh thang rợp bóng hàng me cổ thụ trên đường Tự Do hay Gia Long. Sài Gòn ngày ấy trong mắt đứa trẻ như tôi là một bảng màu rực rỡ. Đó là màu xanh trắng của những chiếc taxi Renault nhỏ nhắn, là sắc áo dài thắt eo kiêu kỳ của các cô, các chị dạo phố bên bùng binh Cây Liễu, và là ánh đèn neon lấp lánh từ những rạp hát danh tiếng như Rex hay Eden. Âm thanh của Sài Gòn thời ấy là bản giao hưởng hỗn tạp nhưng quyến rũ: tiếng rao của những gánh hàng rong ven đường, tiếng nhạc Twist sôi động phát ra từ các quán bar, hòa cùng tiếng chuông nhà thờ Đức Bà vang vọng mỗi sớm mai. Thời niên thiếu của tôi không chỉ có sự thanh bình ấy. Lớn lên một chút, tôi bắt đầu cảm nhận được “mùi” của chiến tranh len lỏi vào từng ngõ ngách.
Lịch sử gõ cửa nhà tôi bằng những đêm thức trắng nghe tiếng pháo ì ầm từ xa xăm vọng về ngoại ô. Ký ức về những năm 1960 không thể tách rời khỏi những buổi giới nghiêm, những bản tin thời sự dồn dập trên đài phát thanh và ánh mắt lo âu của mẹ mỗi khi ba đi làm muộn. Năm đó Tết Mậu Thân 1968, khi tiếng súng nổ ngay sát vách tường nhà, biến những con phố quen thuộc thành chiến trường. Sài Gòn bị VC cướp đi cuộc sống an lành, mang đến giết chóc khốc liệt, nơi ranh giới giữa sự sống và cái chết mỏng manh như một sợi tóc. Dẫu vậy, trong sự khắc nghiệt của khói lửa, Sài Gòn vẫn không ngừng vươn mình phát triển. Tôi đã thấy những tòa nhà hiện đại mọc lên, những phong trào tân nhạc bùng nổ, và cả ý chí kiên cường của người dân đô thị. Chúng tôi – những người trẻ thời đó – vẫn đi học, vẫn yêu, vẫn mơ mộng giữa những ngày biến động nhất. Sài Gòn trong ký ức tôi là một thành phố bao dung. Nó ôm trọn cả sự xa hoa lẫn nghèo khổ, cả nét lãng mạn Pháp lẫn hơi thở Mỹ hiện đại, và quan trọng nhất là tinh thần kiên cường của người Việt.Sài Gòn với tôi không chỉ là nơi sinh ra, mà là một phần máu thịt, nơi lưu giữ những năm tháng niên thiếu rực rỡ và bão giông nhất của đời người. Nếu có ai hỏi về mảnh hồn Sài Gòn trong tôi, tôi sẽ kể về khu cổng xe lửa số 6 – nơi nhịp sống dường như luôn hối hả theo những chuyến tàu xuôi ngược. Nhà tôi nằm trên mặt đường Trương Minh Ký con đường nối liền thủ đô với tỉnh Gia định .
Tuổi thơ tôi bắt đầu bằng những buổi sáng được ba mẹ dắt tay đến lớp mẫu giáo của các Sơ Mến Thánh Giá tại Tổ Chim Non. Hình ảnh những chiếc lúp đen hiền từ và tiếng hát trẻ thơ vang lên dưới mái trường nhỏ ấy là những nốt nhạc bình yên đầu đời. Rồi năm năm tiểu học tại Saint Thomas, tôi lớn dần lên trong kỷ luật và tình thương, bắt đầu biết quan sát thế giới qua khung cửa lớp học nhìn ra phố xá rộn ràng.Khi bước vào ngưỡng cửa trung học, tôi trở thành nam sinh của Trường Lê Bảo Tịnh và Cứu Thế. Đó là những năm tháng của sự trưởng thành, khi tâm hồn bắt đầu biết rung động trước cái đẹp. Làm sao quên được những buổi tan trường, khi nắng đổ vàng trên mặt đường Trương Minh Ký, cũng là lúc những “thiên thần áo trắng” từ các ngôi trường trung học tan trường xuống phố đông nghịt. Giữa đám đông xao xác ấy, đôi khi tôi bỗng khựng lại, ngẩn ngơ nhìn theo một tà áo lụa mượt mà bay trong gió chiều. Cái trắng của áo nữ sinh Sài Gòn ngày ấy sao mà tinh khôi, sao mà hư ảo đến thế. Trong đầu tôi lúc ấy, chẳng hiểu sao cứ vang lên câu thơ của Hàn Mặc Tử: “Áo em trắng quá nhìn không ra…”. Cái màu trắng ấy của đồng phục, nét đáng yêu một thời thiếu niên trong trẻo, giữa một bối cảnh lịch sử đầy biến động và tiếng súng thỉnh thoảng vẫn vọng về từ phía xa.Tiếng chuông tan trường vừa buông những nhịp vang giòn giã, đánh tan cái tĩnh lặng của buổi trưa hè. Cổng trường bừng tỉnh, mở toang đón dòng thác trắng của những tà áo dài ùa ra như mây bay. Giữa cái lao xao của chúng bạn, tôi vẫn cố nán lại bên xe nước mía quen thuộc, chờ đợi như để trộm nhìn bóng dáng ai kia.
Nàng khéo léo dắt chiếc xe đạp mini ra khỏi cổng, tà áo dài trắng tinh khôi được vén gọn một bên đầy nền nã. Cái dáng người thanh mảnh, đôi tay nhỏ nhắn giữ ghi-đông xe lướt đi giữa hàng cây dầu cổ thụ sao mà duyên dáng đến thế! Mỗi vòng quay bàn đạp của nàng như cuốn theo cả tâm hồn gã thư sinh đang ngẩn ngơ, tay cầm ly nước mía sủi bọt mà lòng thì ngọt lịm hơn cả đường cát. Bên cạnh sự thanh tao ấy là cái chân phương của hàng quán vỉa hè. Mùi thơm nồng nàn của tô cháo lòng khói tỏa, vị mặn mà của những cuốn bò bía chấm tương đậu phộng… tất cả tạo nên một phong vị rất riêng của tuổi học trò. Những món ăn giản đơn ấy, ăn cùng với nụ cười trong trẻo của bạn bè, bỗng trở thành những ‘mỹ vị’ mà suốt năm mươi năm bôn ba, tôi chẳng thể tìm lại được ở bất cứ nơi nao.
Năm lớp 12, giữa những biến động của thời cuộc và áp lực của bài vở kỳ thi Tú Tài cuối năm . Hồng Trinh. Nàng là cô bạn cùng lớp với đôi mắt đen láy và nụ cười làm bừng sáng cả một góc sân trường. Như cái tên quyến rũ nhưng thanh thót , nàng là một đoá Hồng trắng tinh làm rộn ràng tim tôi . Tình yêu tuổi mười tám của chúng tôi cứ thế nảy nở, tuổi học trò rụt rè và chân thành. Đó là những giờ ra chơi vội vã, những lần lén trao nhau mẩu giấy viết tay kẹp trong cuốn vở vạn vật hay toán pháp. Tôi nhớ những buổi tan trường, khi nắng bắt đầu nhạt màu trên đường Trương Minh Ký, tôi và Hồng Trinh thường dắt xe đi bộ thật chậm. Tiếng còi tàu ở cổng xe lửa số 6 như một cái cớ hoàn hảo để chúng tôi được dừng lại bên nhau lâu hơn một chút, mặc cho dòng người đang hối hả chờ tàu qua.
Hồng Trinh trong bộ áo dài trắng, tinh khôi như một nhành lan, khiến tôi mỗi lần nhìn theo lại thấy lòng mình xao động lạ thường. Có những lúc, đứng trước vẻ đẹp thanh khiết ấy, tôi chợt hiểu thấu cái cảm giác của Hàn Mặc Tử: “Áo em trắng quá nhìn không ra…”. Màu trắng ấy không chỉ là màu áo, mà là màu của những giấc mơ dang dở, của một tình yêu học trò đầy vụng dại, ngây thơ . Chúng tôi đã cùng nhau đi qua những con phố đầy hoa điệp vàng, cùng nghe tiếng chuông từ giáo đường ngân vang mỗi buổi chiều tà. Những câu chuyện không đầu không cuối, những lời hứa hẹn của tuổi trẻ… tất cả đều được gói ghém trong cái không gian đầy hoài niệm của Sài Gòn những năm cuối cùng . Hồng Trinh chính là đóa hoa hồng nhỏ, là “khoảng trời riêng” bình yên nhất của tôi giữa một thời đại mà tiếng súng và tiếng kinh cầu luôn đan xen vào nhau. Tôi còn nhớ mãi một buổi tan trường đưa nàng về. Ghé tai thỏ thẻ: “Mai này mình mãi bên nhau nhé anh”. Bỗng chốc, mây mù kéo đến đen nghịt, mưa đổ xối xả khiến hai đứa ướt như chuột lột. Tôi cảm nhận được bờ vai nàng run rẩy vì lạnh phía sau lưng. Tôi vội ghé xe vào một mái hiên bên đường. Trong cái lạnh của cơn mưa Sài Gòn, nàng ép sát người vào tôi để tìm hơi ấm. Tôi vòng tay qua eo, kéo nàng vào lòng và thì thầm: “Đưa em về dưới mưa, nói năng chi cũng thừa…”. Nàng ngẩng mặt lên, đôi mắt lim dim huyền ảo dưới màn mưa, và tôi cuống quýt tìm vị ngọt từ đôi môi nàng. Khoảnh khắc ấy, thế giới xung quanh như ngừng lại, chỉ còn tiếng mưa rơi và nhịp đập của hai trái tim đang yêu.
Nhưng rồi, những ngày mộng mơ nhanh chóng bị dập tắt bởi thực tại tàn khốc. Chiến cuộc lan rộng, tiếng bom pháo đêm đêm dội về Sài Gòn như những nhịp đập kinh hoàng của tử thần. Cuối tháng Ba năm ấy, tin dữ từ Tây Nguyên truyền về như vết dao cắt: quân Cộng sản Bắc Việt tràn ngập, người dân di tản nằm lại la liệt trên những con đường máu vì đạn pháo. Sài Gòn những ngày cuối tháng Tư trở nên hỗn loạn. Người giàu có, chức quyền tìm đường ra hải ngoại; trường học đóng cửa, cắt đứt sợi dây liên lạc duy nhất giữa tôi và Hồng Trinh. Trong nỗi lo âu tột độ khi chiến sự tạm lắng, tôi cuống cuồng tìm đến nhà nàng trên con phố quen thuộc. Đáp lại tôi chỉ là cánh cửa đóng im lìm, lạnh lẽo. Giữa khe cửa khép chặt, tôi run rẩy rút ra một mảnh giấy nhỏ – lá thư cuối cùng của cuộc tình học trò. Những hàng chữ nguệch ngoạc viết vội như hơi thở gấp gáp giữa lằn ranh sinh tử: “Em phải đi di tản với gia đình. Nếu yên ổn em sẽ về tìm anh. Yêu anh mãi mãi”. Ngày 30/04/1975, Sài Gòn đổi chủ. Nhìn lá cờ đỏ tràn ngập phố phường, tôi cảm thấy như máu trong tim mình cũng đang tuôn trào. Mất nước, mất nhà, và mất cả người yêu dấu. Dòng tin vội vã ấy hóa ra là lời vĩnh biệt. Hồng Trinh đi vào mù khơi của những chuyến di tản, để lại tôi với nỗi đau ly biệt và một Sài Gòn đã vĩnh viễn thay đổi. Mối tình đầu tinh khôi năm lớp cuối trung học, giờ đây chỉ còn là một mảnh ký ức vụn vỡ, nằm lại dưới mái hiên mưa và những tầng lớp bụi mờ của lịch sử. Sau ngày định mệnh ấy, tôi vẫn không thôi ngóng chờ, vẫn nuôi hy vọng mong manh về một tin tức từ phương xa. Nhưng đáp lại chỉ là sự im lặng đến tê tái, nàng bặt vô âm tín giữa dòng đời dâu bể.
Hôm nay, đã tròn 50 năm trôi qua. Tôi ngồi đây, bên bờ đại dương mênh mông, để mặc cho gió biển thổi lùa vào mái đầu đã bạc. Nhìn về phía chân trời xa xôi ấy, tôi tự hỏi giờ này nàng ở nơi đâu? Giữa thế giới rộng lớn này, liệu có phút giây nào nàng biết rằng tôi vẫn ôm khít trong lòng hình ảnh một Sài Gòn yêu dấu . Nửa thế kỷ đi qua, vậy mà mỗi khi nhắm mắt lại, tôi vẫn ngửi thấy mùi khói từ gánh cháo lòng nghi ngút bên cổng trường, trộn lẫn với vị ngọt thanh của ly nước mía vừa ép xong, sủi bọt trắng ngần. Những buổi tan trường nắng quái, đám học trò chúng tôi cứ vây quanh xe bò bía, vừa ăn vừa râm ran những câu chuyện không đầu không cuối, mặc cho bụi phấn còn vương trên vai áo. Giữa cái xô bồ, hồn nhiên của tuổi dại, hình bóng khiến lòng tôi xao động nhất vẫn là nàng. Nàng thanh tân trong tà áo dài trắng muốt, mái tóc thề buông lơi trên đôi vai gầy, dịu dàng điều khiển chiếc xe đạp mini lướt qua phố nhỏ. Dáng hình ấy mong manh tựa một nhành lan, vừa gần gũi lại vừa xa xăm,
Trong tâm tưởng tôi, Hồng Trinh vẫn mãi là người yêu dấu cùng lớp với tà áo trắng ngây thơ, thấp thoáng nơi cổng trường Cứu Thế. Những kỷ niệm cứ thế ùa về, sống động như vừa mới hôm qua nụ hôn đầu dưới mái hiên mưa đường Trương Minh Ký. Nghe tim mình thắt lại, tôi không ngăn được dòng lệ tuôn rơi khi bất chợt đâu đây vang lên giai điệu u uẩn của bản nhạc cũ: “Sài Gòn ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời… Sài Gòn ơi, tôi hứa rằng tôi sẽ trở về.” Lời bài hát như xoáy vào vết thương chưa bao giờ lành. Tôi đã mất Sài Gòn, mất cả người yêu đầu đời trong cơn lốc của lịch sử. Nhưng trong cõi riêng của mình, tôi vẫn giữ trọn lời thề ấy – một sự trở về trong tâm tưởng, để được một lần nữa nhìn thấy tà áo trắng của nàng bay trong gió chiều bên cổng xe lửa số 6 năm nào.
Hương Xưa
