Trong giáo huấn của Giáo hội Công giáo, đời sống chính trị không phải là điều xa lạ với đức tin. Trái lại, Giáo Hội luôn khuyến khích các tín hữu dấn thân vào đời sống xã hội để bảo vệ công ích, công lý và phẩm giá con người. Tuy nhiên, sự dấn thân đó trước hết là sứ mạng của giáo dân, còn các linh mục và giám mục phải giữ vai trò mục tử thiêng liêng, Như vậy, Giáo hội thật rõ ràng: Giáo sĩ không phận vụ trong môi trường chính trị-xã hội. Do đó, Giáo Luật ấn định:. Sự phân định này đã được quy định rõ trong Bộ Giáo luật 1983 của Giáo hội Công giáo. Các điều khoản như : Can. 285 §3 và Can. 287 §2 cấm giáo sĩ nắm giữ các chức vụ công quyền có kèm quyền lực dân sự hoặc tham gia tích cực vào các đảng phái chính trị. Lý do rất rõ ràng: ơn gọi linh mục là phục vụ thiêng liêng và phổ quát, không phải là tìm kiếm quyền lực trần thế. Hiện nay GHCGVN điều hành một cách nghịch với giáo luật , với giáo huấn. Chính những LM tham chính (UBĐKCG) lại lên bục giảng cấm giáo dân làm “chính trị” khi họ phản biện đòi công lý, tố tham nhũng .
- Khi linh mục bước vào chính trị
Một khi linh mục trực tiếp tham gia vào bộ máy quyền lực ( đại biểu Quốc hội), vai trò mục tử rất dễ bị biến dạng. Trước hết, linh mục có nguy cơ trở thành một “cán bộ tôn giáo”, nghĩa là người đại diện cho một hệ thống chính trị thay vì là người phục vụ Tin Mừng. Trong mắt xã hội, hình ảnh linh mục khi đó không còn là người dẫn dắt đời sống thiêng liêng, mà là một nhân vật chính trị mang áo tu.
Thứ hai, chính trị luôn gắn liền với phe phái và lợi ích. Trong khi đó, linh mục được mời gọi phục vụ mọi người, bất kể lập trường chính trị. Khi đứng về một phía, linh mục sẽ vô tình gây chia rẽ trong cộng đoàn tín hữu và làm suy yếu vai trò mục tử của mình. Thứ ba, sự kết hợp giữa tôn giáo và quyền lực chính trị luôn dẫn đến nguy cơ công cụ hóa tôn giáo. Hoặc tôn giáo bị sử dụng để phục vụ quyền lực chính trị, hoặc quyền lực chính trị bị dùng để phục vụ quyền lực tôn giáo. Cả hai đều dẫn đến sự tha hóa.

- Nguy cơ đặc biệt trong chế độ độc đảng
Những nguy cơ trên càng trở nên nghiêm trọng trong các chế độ chính trị không có cạnh tranh dân chủ thực sự như VN với đảng CS. Trong thực tế chính trị của Việt Nam, hệ thống quyền lực được lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản Việt Nam độc tài thống trị. Các ứng cử viên vào Quốc hội Việt Nam hay các hội đồng nhân dân thường phải qua các bước hiệp thương và sàng lọc chính trị trước khi được đưa ra bầu cử, nhiều ứng cử viên tự do đã bị quy kết loại bỏ , bỏ tù sau đó . Trong bối cảnh đó, nhiều người cho rằng các cuộc bầu cử chỉ mang tính hình thức với mô hình quen thuộc: “đảng cử, dân bầu”. Kết quả nhiều khi đã được định đoạt trước khi lá phiếu được bỏ vào thùng. Chính vì vậy, việc các linh mục hoặc các cơ quan Giáo Hội cổ vũ mạnh mẽ cho các cuộc bầu cử mang tính hình thức như vậy có thể gây ra một vấn đề nghiêm trọng về chứng tá sự thật
.
- Khi các văn thư tôn giáo cổ vũ bầu cử
Trong những ngày gần đây, một số văn thư từ các Tổng giáo phận, GP kêu gọi tín hữu tham gia bầu cử quốc hội và hội đồng nhân dân đã gây ra nhiều tranh luận. Những lời kêu gọi đó thường viện dẫn giáo huấn của Công đồng Vatican II, đặc biệt trong hiến chế Gaudium et Spes, nói về trách nhiệm công dân trong đời sống xã hội, một cách trí trá , nguỵ biện , cố tình bao che cho chế độ. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là: giáo huấn đó được viết cho các xã hội nơi người dân thực sự có quyền lựa chọn chính trị.Tại VN các cuộc bầu cử không mang bản chất cạnh tranh tự do, lời kêu gọi “sáng suốt chọn người xứng đáng” dễ trở thành đồng loã với gian đảng. Nếu mọi ứng cử viên đều đã được tuyển chọn trước bởi một hệ thống đảng chính trị, thì việc kêu gọi “chọn lựa” chỉ còn là một hình thức mang tính gian xảo. Trong trường hợp đó, các văn thư tôn giáo cố tình có thể trở thành một yếu tố góp phần hợp thức hóa một tiến trình chính trị mang tính gian lận , tình nguyện làm công cụ cho chúng

.
- Nguy cơ làm suy yếu chứng tá của Giáo Hội
Vai trò quan trọng nhất của Giáo hội Công giáo trong xã hội không phải là tham gia quyền thế chính trị, mà là làm chứng cho sự thật và công lý. Khi các giáo sĩ hoặc cơ cấu Giáo Hội bị nhìn nhận là đứng cùng phía với thế quyền, uy tín đạo đức của Giáo Hội sẽ bị suy giảm. Người tín hữu có thể đặt câu hỏi:
- Giáo Hội đang nói tiếng nói của lương tâm hay tiếng nói của thế quyền?
- Giáo Hội đang bảo vệ sự thật hay đang hoà nhập với chính quyề độc tài ?
Những câu hỏi đó, nếu không được trả lời minh bạch, sẽ dần dần làm xói mòn niềm tin của tín hữu.
- Con đường đúng: Giáo Hội độc lập với quyền lực
Lịch sử cho thấy sức mạnh của Giáo Hội không nằm ở quyền thế chính trị, mà ở sự độc lập đạo đức với thế quyền . Chính khi không bị ràng buộc bởi các hệ thống chính trị, Giáo Hội mới có thể lên tiếng bảo vệ:
- phẩm giá con người
- công lý xã hội
- và sự thật
Một linh mục trung thành với ơn gọi của mình không cần nắm quyền lực nhà nước để phục vụ xã hội. Sức mạnh của linh mục nằm ở bàn thờ, tòa giảng và tiếng nói lương tâm, chứ không phải ở ghế quyền lực trong bộ máy chính trị.
Kết luận
Việc linh mục tham gia chính trị hoặc cổ vũ các tiến trình chính trị mang tính gian lận , không chỉ là một vấn đề kỷ luật giáo hội . Nó còn đặt ra một câu hỏi lớn hơn về sứ vụ và căn tính của Giáo Hội. Nếu tôn giáo trở thành một phần của trò chơi quyền lực, tôn giáo sẽ mất đi căn tính thánh thiện của GH. Nhưng nếu Giáo Hội giữ được sự độc lập trước quyền lực trần thế, thì chính sự độc lập đó sẽ làm nên sức mạnh lớn nhất của Giáo Hội: sức mạnh của sự thật. “ chỉ Sự Thật mới giải thoát anh em “ Chúa Giêsu xác định
Trong mọi thời đại, điều làm nên uy tín của Giáo hội Công giáo không phải là quyền lực chính trị, cũng không phải là sự thỏa hiệp với quyền lực, mà chính là lòng trung thành với sự thật. Khi các mục tử giữ được khoảng cách cần thiết với quyền lực trần thế, Giáo Hội trở thành tiếng nói của lương tâm xã hội. Nhưng khi các giáo sĩ bước quá sâu vào những cơ chế chính trị, đặc biệt trong những hệ thống quyền lực tập trung như của Đảng Cộng sản Việt Nam, nguy cơ lớn nhất không chỉ là vi phạm giáo luật, mà là làm suy yếu chứng tá Tin Mừng trước thế giới. Một bài học đau thương Giáo trị thời Trung Cổ : giai cấp Giáo sĩ kết hợp với giai cấp Quý Tộc cùng thống trị . Đã được chữa lành với Công Đồng Vatican 2.
Một Giáo Hội bị đồng hóa với thế quyền sẽ đánh mất khả năng phê phán nó. Một linh mục trở thành nhân vật chính trị sẽ không còn tự do để nói sự thật với thế quyền . Và khi sự thật bị hy sinh cho sự “thuận thảo” với thế quyền , thì tôn giáo sẽ dần dần biến thành một cơ chế trang trí đạo đức cho đảng cầm quyền, thay vì là ánh sáng soi chiếu thế gian . Lịch sử nhân loại đã nhiều lần chứng minh: tôn giáo không bị suy yếu vì bị đàn áp, nhưng thường suy yếu khi tự nguyện đứng về phía thế quyền, thay vì đứng về phía sự thật. Khi đó, người dân không còn nhìn thấy nơi Giáo Hội một tiếng nói của lương tâm, mà chỉ thấy một thiết chế tôn giáo đang làm công cụ chính trị. Chính vì vậy, trách nhiệm lớn nhất của các mục tử hôm nay không phải là khuyến khích giáo sĩ bước vào quyền lực hay vô tình hợp thức hóa những cơ chế chính quyền tiêu diệt tự do chà đạp nhân phẩm . Trách nhiệm của Giáo quyền là bảo vệ sự độc lập đạo đức của Giáo Hội.
- Bởi vì chỉ khi đứng ngoài quyền lực, Giáo Hội mới có thể nói thẳng thật với Chính quyền
- Chỉ khi không lệ thuộc Nó, Giáo Hội mới có thể phê phán nghiêm khắc tội ác.
- Và chỉ khi trung thành với sự thật, Giáo Hội mới giữ được căn tính quý giá nhất của Giáo Hội :
Sự thánh thiện Thiên Chúa trao phó và trước lương tâm của dân tộc.
Vinh Sơn Liêm
